VÀI NÉT ĐẠI
CƯƠNG VỀ ĐẠO CAO ĐÀI
Bài Thuyết Đạo
nhân ngày Họp Đạo lần đầu tại Chicago
Chủ Nhật 21-09-2003
Giáo Hữu NGỌC SÁCH THANH
Kính thưa quí Thiên Phong Chức Sắc,
Quí quan Khách.
Quí Nhân sĩ, quí thân hữu, quí Niên Trưởng,
quí anh chị em Tín Hữu thân mến.
Trước nhất, tôi xin thành thật
cảm ơn Ban Tổ chức đă dành cho tôi được
tŕnh bày cùng liệt quí vị một vài nét đại cương
về Đạo Cao Đài. Tôi cũng xin thành tâm cầu
nguyện cho buổi họp mặt thân hữu ngày hôm nay có
một kết quả tốt đẹp, mọi người
chúng ta được cảm nhận cho nhau bằng
một tấm ḷng kính mến và thương yêu chân
thật. Tôi cũng xin trân trọng chào mừng tất
cả liệt quí vị đă hoan hỷ đến tham
dự với một sự đông đủ và tích
cực.
Thưa quí vị,
Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ
được gọi tắt là Đạo CAO ĐÀI. Có một
ư nghĩa là Đại Ân Xá Kỳ Ba, là một nền tôn
giáo mới do Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế tá
danh là Đức Cao Đài dùng thần cơ diệu bút lập
nên từ đầu thế kỷ 20 (1920) tại nước
Việt Nam.
Đạo Cao Đài ra đời, đánh
dấu một kỷ nguyên cứu độ lần thứ
ba của Đức Thượng Đế đến với con
người kêu gọi con cái của Ngài sớm tỉnh
thức tu hành để Hiệp Nhất cùng Người
trong buổi đời Hạ Ngươn mạt kiếp
nầy đầy đau khổ tội ác tai nạn v́
chiến tranh, v́ thù hận giữa con người cùng con
người, giữa tôn giáo, giai cấp và bất công
trong xă hội tràn ngập khắp trên hoàn cầu nầy
chưa có một ngày nào nhân loại được
cảm thấy đời sống của ḿnh được
an ổn hạnh phúc tự do tự tại.
Ngoài mục đích độ rỗi nhân
sanh hồi đầu hướng thiện, lo tu hành để
đạt đến sự giác ngộ giải thoát
về phần linh hồn. Đạo Cao Đài c̣n có một
sứ mạng v́ nhân sinh, mở ra một kỷ nguyên ḥa
hiệp nhân loại theo luật tuần hườn
tiến hóa vạn thù qui nhất bản, hướng
dẫn cho con người xóa bỏ mọi ranh giới, phân
chia, tranh chấp, để giúp xây dựng cho con người
đi đến một thế giới đại đồng,
ḥa b́nh, an lạc và hạnh phúc.
Chủ trương của Đạo Cao
Đài là: Thế Đạo th́ Đại Đồng; Thiên Đạo
th́ Giải Thoát giác ngộ viên măn.
V́ vậy, Đức Thượng Đế
đă chọn mảnh đất Việt Nam làm một
xuất phát điểm để mở mang phổ
truyền Đại Đạo (v́ dân tộc Việt Nam vốn
có một truyền thống văn hóa đạo đức
sâu dày, đă có sẵn một ảnh hưởng lớn
về Tam Giáo Đạo nhằm giúp cho con người quay
trở về nguồn cội của ḿnh mà cũng gọi
là quy nguyên phản bản).
Trên con đường trở về
nầy, con người ngước mắt nh́n Đạo, nh́n
Trời ở trước mặt. Khi đó có người
bỏ lại sau lưng cái bóng của chính ḿnh, tức là
bỏ đi cái ngă chấp, cái ta ích kỷ hẹp ḥi cái
vô minh ràng buộc để rồi quen dần với cái
sống vong kỷ duy tha, phá chấp diệt trừ mê
vọng, tiến dần về mặt tâm linh đạo
đức, quân b́nh giữa tâm và vật. Loài người
sẽ có đủ đầy cả về trí năng phát
minh khoa học lẫn đạo đức lương tri.
Lúc bấy giờ có thể đạt đến tŕnh
độ trên th́ thông thiên, dưới th́ đạt
địa, nghĩa là đạt đến đỉnh cao
của giá trị làm người cũng có thể gọi
là Thiên Nhân Hiệp Nhất hay là Phối Thiên, hay Đạt
Đạo.
A. GIẢI PHÁP CỦA
ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ:
Muốn có thế giới Đại Đồng,
th́ khơi động trong nhân loại tinh thần Ḥa Ái,
Thương Yêu. Mọi người phải nh́n nhận là
anh em với nhau có cùng một Đấng Cha Chung là Đức
Thượng Đế tối cao. Trước nhất là
tạo thế nhân ḥa trong các tôn giáo và giữa các tôn giáo
với nhau được hiểu biết cảm thông tôn
trọng kính mến cho nhau nhiều hơn nữa. Cần
phải dẹp bỏ những thù nghịch v́ lư do khác
biệt tín ngưỡng, giai cấp, chủng tộc và tôn
giáo điều v.v...
B. ĐỐI VỚI CÁC TÔN
GIÁO:
Trong giáo lư Cao Đài thường gợi lên,
soi sáng lư đồng nguyên và quy nguyên (v́ từ nguồn
gốc Đại Đạo phát sinh Tam Giáo Đạo, rồi
từ Tam Giáo Đạo lại trở về nguồn gốc
Đại Đạo) khai phóng tâm linh con người, đưa
con người tôn giáo vươn lên tầm vóc Đại Đạo,
lúc đó con người có thể ngước mắt lên
nh́n bầu trời to rộng, vượt ra đại dương
trời nước bao la, chắp cánh bay bổng khắp
bốn phương trời để phục vụ nhân
sinh, phụng sự thiên cơ, phụng sự Đại Đạo,
làm theo ḷng trời đất.
Đưa con người tôn giáo vươn
lên tầm vóc Đại Đạo, đây chính là thể
hiện đến tŕnh độ phá chấp diệt ngă,
không chấp vào h́nh danh sắc tướng của tôn giáo.
Lúc đó, chính là đă ḥa hiệp cho nhau trong lư đạo.
V́ có dẹp bỏ được sự chấp kiến
hẹp ḥi đó mới có thể hiểu biết cho nhau,
chung lo sứ mạng độ đời đười
hữu hiệu kết quả. Và tự nó sẽ đẩy
lùi tất cả về cho quá khứ những câu nệ
chấp nê, mâu thuẫn, tranh chấp thấp cao, thù
nghịch và bất công. Mặc dù hiện nay các tôn giáo có
những khác biệt về kinh kệ lễ nghi, giáo điều,
tổ chức tùy theo phong tục văn hóa địa phương
và thời điểm nhân loại chưa mở mang để
lập giáo độ đời, thời gian lúc bấy
giờ nhân loại c̣n trở ngại về những thông
tin liên lạc. Tuy nhiên, trong tiểu dị có đại
đồng v́ các tôn giáo từ ngàn xưa đều
nhằm mục tiêu phục vụ giúp ích cho con người
đi đến đạt đạo và giải thoát
cứu cánh viên măn. Các tôn giáo cũng luôn luôn thể
hiện một tấm ḷng bác ái vị tha đến
khổ nạn của chúng sanh bởi t́nh thương
của các Đấng Giáo Chủ các tôn giáo.
Nói đến tôn giáo là nói đến
T́nh Thương - dù muốn gọi đó là t́nh thương
của Đức Thượng Đế hay Đức Phật - v́
t́nh thương không phân biệt màu da sắc tóc, không biên
cương giới hạn nào cả. Từ đó, Đức
Cao Đài kêu gọi và mong đợi một sự hiệp
nhất, tinh thần b́nh đẳng, hành động hài ḥa
nhất quán của các tôn giáo, hiệp thành một
thực thể trong sứ mạng cứu thế kỳ ba
nầy. Và, Đức Chí Tôn, Ngài hằng dạy rằng Ngài
là Cha của Sự Thương Yêu, Ngài là Sự Thương
Yêu và Sự Sống. Như vậy, nếu tôn giáo mà
thiếu T́nh Thương và Ḥa Hợp chính bởi v́
thiếu vắng Thượng Đế tính, Phật tính, hay
Thiên tính, như quả trứng gà không có ng̣i gà. Từ
đó quả trứng không thể trở thành con gà
được.
C. ĐỐI VỚI NHÂN
LOẠI:
Giáo lư Cao Đài xây dựng lại ư
thức con người, kêu gọi phục hồi nhân
bản để đạt đến giá trị đích
thực, xứng đáng với phẩm vị làm người,
có nghĩa là phục hồi mẫu số chung để
tạo thế nhân ḥa. Đó vừa là phương cách,
vừa là điều kiện để các dân tộc có
thể sống hài ḥa với nhau trong ḥa b́nh an lạc,
hạnh phúc tiến bộ về mọi phương
diện từ vật chất đến tâm linh tinh
thần. Ví dụ: Trong số học, phải qui đồng
mẫu số chung trước khi cộng hai hay nhiều phân
số không đồng mẫu số. Con người là
những phần tử trong cộng đồng nhân
loại, giống như những phân số chưa có
mẫu số chung. Cho nên, nếu loài người muốn
sống chung ḥa b́nh, công hưởng cảnh an vui
thạnh trị th́ con người phải tiến hóa
để có mẫu số chung: đó là nhân bản, là
bản vị con người, bản chất con người
phải giống Trời. Nếu con người không
chịu phục hồi nhân bản, cũng như cây đàn
không được điều chỉnh so dây cho đúng
điệu cung bậc thanh âm trầm bổng du dương
th́ làm sao có thể hợp tấu được khúc
nhạc ḥa b́nh mà hiện nay nhân loại đang khao khát
được thưởng thức?
Giáo lư Cao Đài nhấn mạnh rằng ngày
nào mà nhân bản con người chưa được
đề cao và thực hiện phục hồi, th́ thế
giới ḥa b́nh mà nhân loại đang mơ ước
vẫn chỉ là điều viễn vông không tưởng.
Trên phương diện Thế Đạo,
nhân bản là điều kiện để tạo thế
nhân ḥa, đem lại ḥa b́nh cho thế giới.
Trên phương diện Thiên Đạo, nhân
bản cũng là điều kiện tất yếu để
giúp cho Tiểu Linh Quang (con người) có thể trở
về hiệp một cùng khối Đại Linh Quang (Thượng
Đế): bản chất con người có giống như
Trời th́ mới hội nhập cùng Trời.
Nhận diện được phần
chính danh chính vị của con người, biết rơ
được ḿnh là một điểm Tiểu Linh Quang
từ một khối Đại Linh Quang mà ra, đó là con người
ư thức được nhân bản của chính ḿnh. V́
vậy mà Tiên Sinh Trần Cao Vân đă ngạo nghễ nói
lên tâm tư của ḿnh bằng một bài thơ rất có
ư nghĩa nhất. Ngài nói:
Trời Đất sinh Ta có ư không?
Chưa sinh Trời Đất
có Ta trong,
Ta cùng Trời Đất
ba ngôi sánh,
Trời Đất in Ta
một chữ đồng,
Đất nứt Ta ra
Trời chuyển động,
Ta thay Trời mở
đất minh mông,
Trời che Đất
chở Ta thong thả,
Trời Đất Ta đây
đủ Hóa Công.
Nguyên Hán Văn:
Thiên Địa sinh ngô
hữu ư vô?
Vị sanh thiên địa
hữu hàm ngô,
Thiên Địa lập Tam
Tài lập,
Thiên Địa ngô đồng
nhất tự đồ,
Ngô xuất địa
thời thiên chuyển động,
Thiên giao ngô tịch
địa bao lô,
Địa thiên tải phúc
ngô sanh lạc,
Thiên địa hóa công
ngô hữu hồ.
D. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM
CỦA TÔN GIÁO CAO ĐÀI:
1. Đao Cao Đài do chính Đức Thượng
Đế giáng trần lập đạo, Ngài trực
tiếp làm Giáo Chủ chứ không giao cho tay phàm của
con người, v́ nếu một người phàm làm Giáo
Chủ th́ không thể tránh khỏi sự kỳ thị
về chủng tộc và màu sắc của dân tộc
địa phương thuộc khối nầy hoặc
khối kia.
2. H́nh tượng để thờ phượng
chỉ là một Thiên Nhăn, có một giá trị biểu tượng
thiêng liêng, cũng không mang một h́nh tượng màu
sắc của một sắc dân nào cả.
3. Đấng Thượng Đế trong Đạo
Cao Đài vừa là vô ngă, vừa là hữu ngă. Trong kinh cúng
Tứ thời có câu:
Đại La (vô ngă)
Thiên Đế (hữu ngă)
Thái Cực (vô ngă)
Thánh Hoàng (hữu ngă)...
4. Đạo Cao Đài cũng không duy tâm, cũng
chẳng duy vật, mà chủ trương tâm vật b́nh hành,
quân b́nh đời sống vật chất lẫn tâm linh.
5. Đạo Cao Đài chủ trương phá
chấp triệt để. Cao Đài chẳng phải là Cao
Đài mới thật là Cao Đài. Với tinh thần phá
chấp nầy Cao Đài xem Đạo trọng hơn h́nh tướng
tôn giáo. Sự định nghĩa phân biệt giữa tôn
giáo Đạo hàm súc một tinh thần phá h́nh danh sắc tướng.
6. Tôn giáo là bề mặt, Đạo là
chiều sâu.
7. Tôn giáo là cánh cửa đưa nhân
sanh vào Đạo.
8. Tôn Giáo là con đ̣, Đạo là
bến đỗ; khách đến bến phải rời
đ̣ để đi lên bờ.
9. Đạo Cao Đài chủ trương
vừa nhập thế, vừa xuất thế. Nhập
thế để làm tṛn sứ mạng vi nhân, vừa
phục vụ tha nhân vừa tạo được nền
tảng âm chất hỗ trợ cho bước đường
tu giải thoát của chính ḿnh. Giáo Lư Cao Đài đă xác
nhận.
10. Cao Đài Giáo lấy con người làm
điểm chính để phục vụ lợi ích cho con
người trên tinh thần:
a. Thuần Chân Vô Ngă.
b. Thuần túy đạo
đức.
c. Vạn giáo nhất lư.
Trần gian chính là môi trường
tiến hóa sinh động nhất của vũ trụ càn
khôn với đủ đầy những màu sắc vui
khổ, xấu tốt để trui đúc rèn luyện tâm
chí con người học hỏi tiến hóa. Phật Tiên
từ nơi trần thế mà thành, sen cũng từ nơi
bùn lầy nước đọng mà có hoa thơm quí giá...
Thế nên người đi tu Cao Đài không phải chán
đời để t́m một sự an nhàn thoát tục
xa lánh trần gian không dấn thân phục vụ cho tha nhân
là một nhận định rất sai lầm đáng
tiếc. Cho nên mọi người ai ai cũng có thể
trở thành môn đệ Đức Cao Đài để bắt
chước như Trời làm theo ḷng của Trời, làm
những việc như Trời là phải tự Thánh Hóa
Thần Hóa cái tâm của ḿnh như Thánh Giáo Cao Đài đă
dạy.
Tu hành là học làm
Trời.
Phải đâu kiếp
kiếp làm người thế gian.
và Ngài dạy rằng:
Chớ nên ẩn núp núi xa,
Xưa nay các Đạo
hiểu ra rất lầm.
Đạo đâu, Đạo
tại nơi Tâm,
Th́ đâu có phải
kiếm tầm đâu xa?
(Đại
Thừa Chơn Giáo)
E. MỘT VÀI ĐIỂM
CƠ BẢN VỀ Ư THỨC HỆ CAO ĐÀI:
Người tín đồ Cao Đài tin tưởng
vào thuyết Thiên Địa Vạn Vật Đồng Nhất
Thể. Theo đó, con người, vạn loại và các
đẳng Thần, Thánh, Tiên, Phật đều chung cùng
một bản thể. Bản thể đó là ánh sáng thiêng
liêng (linh quang). Thượng Đế là Đại Linh Quang,
đồng bản thể với Trời nên con người
hăy biết mở rộng t́nh thương đến
với vạn vật, vạn loài mà không nên sát hại và
hủy diệt chúng sanh.
Vậy th́, theo giáo lư Cao Đài, cái
nhất thể đó là Đại Linh Quang, là Thượng
Đế... Nho Giáo gọi là Thái Cực với sự phóng
phát đó sanh hóa được diễn tả là Thái
Cực sanh lưỡng nghi, sanh tứ tượng, sanh bát
quái và sanh ra muôn ngàn vạn hữu chúng sanh đến vô
cùng vô tận vô biên.
Lăo Giáo cũng chủ trương vũ
trụ vạn vật đều do một bản thể
sinh hóa ra. Bản thể ấy Lăo Tử gọi nó là Đạo.
Đạo khi chưa sinh hóa ra vũ trụ c̣n gọi là Hư,
Hư Vô, Hư Không chẳng phải là hư ảo, mà là
thực thể bất khả tư nghị, vô biên tế
của vũ trụ. Sách Xướng Đạo Chơn Ngôn
viết: Vạn vật bắt đầu từ Không, Không
sanh ra Nhất, Nhất sanh ra Vạn. Vạn trở về
Không. Không là thủy tổ của muôn loài.
Trong Phật Giáo, tuy chính Đức
Phật không bàn về bản thể vũ trụ, nhưng
sau Ngài th́ các Phật gia chư Tổ cũng có chủ trương
Thiên Địa Vạn Vật Nhất Thể; Cho nên trong giáo
lư nhà Phật cũng có nói về Chân Như Bản
Thể, Không Tịch, Hư Vô, Không Hư Không... để
mô tả về bản thể. Đức Lục Tổ
Huệ Năng dạy: Hư Không hàm tàng mọi sắc
tướng, vạn vật bao gồm nhật nguyệt tinh
cầu, sông núi đất đai, suối nguồn, cây
cối bụi rừng, người lành kẻ dữ, cái
hay cái dỡ tốt xấu, tất cả mọi núi Tu Di cũng
đều ở trong Hư Không. Tất cả đều
như vậy (Pháp Bảo Đàn Kinh). Để cho Bản
Thể cũng đượm màu Phật Giáo, các Phật
gia c̣n gọi Bản Thể là Phật Tính, và nguyên lư thiên
địa vạn vật đồng nhất thể
được diễn tả là: Nhất thiết chúng sanh
giai hữu Phật Tính.
Diễn đạt ư nầy trong Thánh Giáo
Cao Đài có dạy:
Có trời, có đất,
có nhân vật,
Có Đạo mầu
trời đất định phân.
Thế nên khắp
chốn hồng trần,
Đều do Lư Đạo
tạo phần Hữu Vô.
1. Thiên Địa Vạn Vật Tương
Đồng:
Bởi lư do rất đơn giản là
nhất bản tán vạn thù. Vốn từ một gốc
sanh ra th́ vạn vật phải tương đồng nhau
về bản chất, nghĩa là giống nhau về
chất ẩn tàng bên trong là sự sống, và từ
một gốc mà ra th́ tất cả đều tương
đồng với cái gốc chung nầy là Trời, là Thượng
Đế. Điểm tương đồng nầy c̣n
được gọi là mầm lành, giống thiện,
Phật Tánh, Thượng Đế Tánh hay tự nhiên Tính. Cái
bản thể chung ấy, cái nhất thể ấy dù
ở dưới khía cạnh nào, dù ở trạng thái
động tỉnh, đều nhất thiết có ẩn tàng
nơi mọi sở vật thực tại, hoặc lớn
nhỏ. Th́ đấy gọi là Thiên Địa Vạn
Vật tương đồng.
2. Thiên Địa Vạn Vật Tương
Quan:
Để làm sáng tỏ mối liên hệ
giữa vạn vật trong Vũ Trụ Trời Đất, giáo
lư Cao Đài đă tŕnh bày sự tác động qua lại
của thiên địa vạn vật như sau:
Chính các nguồn năng lượng
của trời, phong thủy hỏa của đất và
tinh khí thần của con người luôn luôn tác động
lẫn nhau tạo thành mối liên quan triền miên ấy.
Lấy sự biến dưỡng và hóa sinh của con người
làm thí dụ, mối tương quan mật thiết
ấy được thể hiện qua lời dạy
của Đức Chí Tôn trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển như
sau: Các vật thực con người ăn uống vào
dạ dày tỳ vị lại biến ra khí, khí biến ra
huyết, ra tinh. Nó có thể hườn sanh ra nhơn h́nh
mới có sanh sanh, tử tử của kiếp nhân sinh (Thánh
Ngôn Hiệp Tuyển). Ta lại biết các vật thực
là những sinh vật hấp thụ tinh khí của
trời đất. V́ vậy mà trời, đất,
vạn vật và con người có sự tương quan
rất là mật thiết với nhau. Ngày nay các khoa
học gia cũng khám phá ra được mối tương
quan tương đồng trong vũ trụ qua lời
nhận xét của nhà Vật Lư không gian Fritiof Capra đă
nói:
Là một nhà vật lư, tôi biết cát,
đá, nước và không khí quanh ḿnh đều
được cấu tạo bằng phân tử và nguyên
tử, chúng đang dao động, bản thân chúng
được các hạt nhỏ hơn tạo thành, các
hạt đó cũng tương tác lẫn nhau để
sinh ra hay hủy diệt các hạt khác. Và lúc tôi ngồi
trên băi biển, kinh nghiệm ngày trước hầu như
sống lại; tôi thấy "năng lượng tràn như
thác đổ từ không gian xuống, trong đó bao nhiêu
hạt được h́nh thành, bao nhiêu hạt bị
hủy diệt trong một sức mạnh nhịp nhàng; tôi
thấy nguyên tử của các nguyên tố và cả
bản thân tôi tham gia vào trong một nhận thức vũ
điệu nhịp nhàng năng lượng này của vũ
trụ; tôi cảm nhận là vũ điệu đó và
nghe được âm thanh của chúng, và ngay lúc đó tôi
biết đó là vũ điệu của Shiva, một
vị Thần nhảy múa được người
Ấn Độ tôn thờ."
Trong Cao Đài luôn luôn xác tín rằng nguyên
lư Thiên Địa Vạn Vật Nhất Thể được
minh định Trời Người Đồng Nhất
Thể nên Đức Chí Tôn dạy rằng: Thầy là các
con, các con là Thầy. Hay là:
Thật là diệu
diệu huyền huyền,
Trời người có
một chẳng riêng khác nào.
...
Con là đấng thiêng
liêng tại thế,
Con với Thầy đồng
thể linh quang.
Khóa ch́a con đă
sẵn sàng,
Khi vào cơi tục
khi sang thiên đ́nh.
...
Người với
trời thể chất song song,
Nếu ḿnh bền chí
gia công,
Tu thân luyện mạng
cũng mong thành Trời...
Thưa quí vị.
Với tôn chỉ và mục đích
của Đạo Cao Đài và quan điểm dung ḥa rộng răi
của Cao Đài Giáo mà tôi vừa nêu lên những điểm
tóm lược và cũng rất thiết thực rơ ràng
nhất có thể kết họp cùng với trào lưu
mới của thời đại văn minh của thế
giới nhân loại ngày nay để cống hiến cho
tất cả mọi người tận dụng khả năng
của ḿnh bằng con đường tu học để
đạt đạo, đạt chứng viên minh giác
ngộ tự tánh của ḿnh được hoàn nguyên
phản bản. Con đường ấy cũng không
phải bằng đường sông, đường
biển, trên xa lộ mênh mông, cũng không phải đi
qua bên Tây Trúc thỉnh kinh như Đường Tăng Tam
Tạng và học tṛ phải lặn lội xuyên qua ngàn
vạn dặm đường rừng núi khó khăn
với trăm cay ngàn đắng trong suốt 14 năm dài
mới đem được kinh về cho Trung Quốc, cũng
không phải đêm ngày luôn luôn cầu nguyện tụng
kinh cho thật đầy đủ, cúng tiền bạc
bố thí cho nhiều vào nơi chùa thất để lo
hối lộ cho Phật Trời chứng minh là việc hy
sinh cho Đạo. Cũng không phải đi lặn lội rao
giảng giáo lư cho hay để giúp cho Đạo Giáo của
ḿnh nhiều người tin theo càng nhiều người
khắp trên thế gian nầy là có thể được
siêu thoát luân hồi sanh tử và nhập ngay vào Niết Bàn
hay Thiên Đường nào đó trên tận không trung vô
tận mịt mù sâu thẳm để tận hưởng
sự tiêu diêu cực lạc như lâu nay các nhà tôn giáo
thường hay lừa gạt phỉnh phờ gạt
gẩm những kẻ non dạ kém cỏi tin theo một cách
mù quáng. Cũng bởi lẽ vô minh đó mà ngày nay cái
họa về bất ổn trật tự cho thế
giới nhân loại bởi những kẻ lợi dụng
xuyên tạc giáo điều tôn giáo, đầu độc
con người gây ra tội ác lỗi lầm rất đáng
kinh ngạc nhất.
V́ thế, muốn thấu triệt
được chân lư Đạo th́ phải th́ đi vào con
đường nội tâm để t́m cầu học
hỏi... V́ có biết nh́n sâu vào nội tại tâm linh
mới thấu triệt được lẽ thật,
mới t́m ra con đường chân chính tự do hạnh
phúc miên trường vĩnh cửu. V́ rằng: Phật
tại tâm, Tâm tức là Phật. Nên Đức Cao Đài
đă dạy từ lúc ban đầu rằng: Thầy là
các con, các con là Thầy.
Và, trong Hồi kư Tây Du, tác giả có
nhắc lại rất rơ ràng: T́m Phật t́m Trời
từ nơi đáy ḷng con người.
Phật tại Linh Sơn
vốn chẳng xa,
Linh Sơn kỳ
thực tại ḷng Ta.
Người người
đều có Linh Sơn tháp,
Tu tại Linh Sơn
mới khéo là.
Nguyên Hán Văn như sau:
Phật tại Linh Sơn
mạc viễn cầu,
Linh Sơn chỉ
tại nhử tâm đầu.
Nhân nhân hữu cá Linh
Sơn tháp,
Hăo hướng Linh Sơn
tháp tự tu (1).
Thiền Tông Phật Giáo cũng tha
thiết chủ trương: Trực chỉ Nhân Tâm,
Kiến Tánh thành Phật.
Cao Đài Giáo cũng chủ trương
rằng con người có sẵn Thiên Tính, Phật Tính, có
Bản Tính thường hằng bất biến tự
tại viên minh diệu giác, có đủ Thái Cực, Vô
Cực như Trời. Cho nên, nếu con người có
sẵn một thiện tính vô cùng linh hoạt nếu
biết cải hóa nội tâm th́ cũng có thể giác
ngộ trở thành Trời hay Thần Thánh, Tiên Phật.
Trong quí anh em chúng ta có mặt tại nơi
đây trong ngày hôm nay tôi nhận thấy đa số quí
liệt vị tuổi đời cũng đă về
buổi xế chiều. Cũng đă đến lúc chúng
ta nên gấp rút tự chọn cho ḿnh một con đường
thích hợp nhất với chúng ta! Và như thế
chỉ c̣n con đường hướng nội mà t́m
cầu hai chữ Cao Đài. Theo tôi nghĩ hai tiếng Cao Đài
không phải chỉ dành cho những người đă vào
trong khuôn khổ tôn giáo Cao Đài, phải nhập môn
cầu đạo, ăn chay đi chầu lễ tại các
Thánh Sở với đạo phục màu trắng mới là
Cao Đài. V́ hai chữ Cao Đài hoặc Đạo Cao Đài không
phải riêng cho bất cứ một ai mà tất cả chúng
ta cũng đă có sẵn Cao Đài trong tất cả quí
vị và chúng tôi. Hai tiếng Cao Đài chính nghĩa của
nó là Lương Tâm, là Phật Tính, là Thiên Tính, là Nhân
Tính, là Nê Hườn Cung trong mọi người chúng ta
ai cũng có một Năo Thất Ba nằm ngay tại đỉnh
đầu của ḿnh đó là Ṭa ngự cao quí của Đấng
Toàn Năng Thượng Đế thường ngự
tại nơi đó gọi là Cao Đài. V́ từ lâu nay trong
mỗi chúng ta chưa t́m ra được Bản thể
của ḿnh nên phải chịu măi trong sự luân hồi
sanh tử khổ đau vô tận không ngă thoát ly.
V́ vậy mà Đức Cao Đài, Ngài đă
động ḷng từ bi nên đến tại thế gian
nầy lập thành Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ
để dẫn dắt con cái của Người sớm
tỉnh thức ăn năn tu học hầu có thể
sớm hội hiệp cùng Ngài, và Ngài dạy rằng:
Muôn kiếp các con
chịu lạc đường,
Thấy vầy Thầy
luống động thương.
Nên đoan thệ cùng
hàng Tiên Phật,
Lập Đạo không thành
chịu tội ương.
V́ th́ giờ không cho phép tôi tiếp
tục tŕnh bày thêm những phương thức tu học
về Cao Đài để giúp cho quí liệt vị thông
cảm thêm về giáo lư Cao Đài. Trước khi chấm
dứt tôi xin thành thật cảm ơn tất cả quí
vị đă lắng nghe và chúng tôi xin ghi nhận công
đức của quí vị quan khách và chư Hiền
Huynh, Hiền Tỷ, các Đệ Muội có mặt trong ngày
hôm nay là một thiện chí.
Trân trọng kính chào và rất mong đón
nhận những ư kiến đóng góp tốt của
liệt quí vị hầu chúng tôi có thể thành lập
một cơ sở Đạo Cao Đài tại nơi nầy và
để giúp cho các Tín Hữu Cao Đài chúng tôi tại
đây và các vùng phụ cận có được
những sự liên lạc cho nhau được dễ dàng
và thuận tiện.
Trọng kính.
Chicago, ngày 21 tháng 09 năm 2003.
Giáo Hữu NGỌC SÁCH THANH
(Hồng Lan đánh máy lại ngày
22-10-2003)