CÔNG CHƯA THÀNH NHƯNG CHÍ ĐÃ THÀNH

Thanh Mai

Đạo trưởng Huệ Lương thuyết đạo tại CQPTGL

Công chưa thành nhưng chí đã thành”, đây chính là lời nhận xét của Đức Chí Tôn khi ân phong Tiên vị Quảng Đức Chơn Tiên cho đạo trưởng Huệ Lương, vị Tổng Lý Minh Đạo đầu tiên của Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo (CQPTGLĐĐ). Đạo trưởng đã được Đức Chí Tôn triệu hồi đúng vào ngày Khai Minh Đại Đạo Rằm tháng 10 năm Canh Thân (1980) và sau đó đã được Thiên Đình xét công hạnh ân phong phẩm vị Quảng Đức Chơn Tiên vào ngày mùng 01 tháng 6 năm Tân Dậu (1981), là ngày kỷ niệm thành lập Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài mà cũng là ngày Đạo Trưởng thọ nhiệm chức vụ Phối Sư Chủ Trưởng Hội Thánh. Ngày mùng 07 tháng 6 Tân Dậu, tại Minh Lý Thánh Hội, Đức Chí Tôn đã giáng đàn để ban trao sắc dụ đăng vị của Đạo Trưởng. Thầy dạy:

Trần Văn Quế là một nguyên căn xin Thầy nguyện xuống thánh địa Việt Nam lập công hành đạo, phò trì chánh pháp. Trải qua thời gian 54 năm qua, một lòng chung thỉ với Đạo, kham nhiệm quyền pháp từ dưới lên trên, làm tròn bổn phận Lễ Sanh, rồi nhờ công hạnh siêng cần, Thầy ban cho Giáo Hữu, thăng phong nhiệm Giáo Sư, công dày chí lớn nên được vào hàng sứ mạng thọ phong Phối Sư đến Ngọc Chánh Phối Sư kiêm Chủ Trưởng Truyền Giáo, Tổng Lý Minh Đạo Cơ Quan. Thầy xét công lao đức hạnh, ngày Một tháng Sáu Tân Dậu, tại Thiên Đình được bái mạng thọ phong.

SẮC DỤ

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Tam Giáo Quy Nguyên - Ngũ Chi Phục Nhứt

Năm thứ 56 - Tiết Quý Hạ

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ viết CAO ĐÀI

SẮC LỊNH

Nghĩ vì trước ngày khai Đạo, các hàng đẳng nguyên căn xin Thầy nguyện xuống trần gian lập công hành đạo, thực thi cơ tái tạo, sứ mạng quy nguyên phục nhứt của buổi Tam Kỳ. Thầy vì thương nhơn loại trầm mê, mới nấy trao quyền pháp cho các hàng đẳng Thiên phong để đủ sức kềm chế nhơn sinh, bảo trì cơ Đạo, hoằng dương chánh pháp.

Song đám con ấy, vì kém đức thiếu tu mà lầm kế chước tà quyền, nền Đạo chia bảy rẽ ba, tinh thần bên trong rạn nứt. Không lẽ ngồi nhìn đám con nghịch lẫn nhau, Thầy thiết lập Long Vân Đại Hội, chuyển cơ quy nhứt để hàn gắn tình thương sự sống và quyền pháp tôn chỉ Đạo Thầy.

Công hạnh ấy, tâm đức ấy, Huệ Lương Trần Văn Quế đã hy sinh đóng góp thật nhiệt thành, bôn ba khắp nước, thiết tha với sự hòa hiệp. Chí hướng ấy trọn đời ôm ấp để thực hiện hai chữ Dung Hòa, mặc dầu chưa thành công, nhưng ý chí đã thành.

Thầy phong:

QUẢNG ĐỨC CHƠN TIÊN, gia ân quyền pháp trở lại Hội Thánh Truyền Giáo, Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý giữ nguyên vị, vận dụng thần lực điều hành quyền pháp đến khi hai nơi ấy có người đủ tài đức.

Các con Thiên ân và toàn đạo y lịnh thi hành.

Trong lời nhận xét của Đức Từ Phụ “Mặc dầu chưa thành công, nhưng ý chí đã thành”, có hai từ khóa quan trọng nhất, đó là chữ “Thành” và chữ “Ý chí”.

Đi ngược dòng thời gian trở về những ngày đầu tiên thành lập Cơ Quan cách đây 42 năm, thật vô cùng hãnh diện khi nhận thấy rằng đạo trưởng Huệ Lương, vị anh cả của CQPTGL là người đầu tiên đã thực hành một cách xuất sắc lời Đức Chí Tôn dạy nhân viên Cơ Quan khi khai mạc Văn Phòng PTGLĐĐ mà nay là CQPTGLĐĐ. Thật vậy, ngay từ ngày 14 tháng Giêng Ất Tỵ (1965) tức một ngày trước ngày khai mạc Văn Phòng PTGL, Thầy đã dạy quý vị tiền bối Cơ Quan lúc bấy giờ về chữ “Thành” như sau:

Các con bởi có duyên lành, nên mặc dầu trải qua bao cơn bão táp, mấy lúc khảo đảo, các con đã không thối chí ngã lòng, trái lại vẫn thiết tha vì tiền đồ cơ Đạo, nên khăng khăng theo đuổi cho đến ngày giờ này. Đa số các con hiện diện tại điện tiền hữu duyên mà lãnh lấy những lời khuyến dỗ của Thầy vừa qua. Các con chí muốn duy nhứt là Đạo sớm thành, mà phải thành trên phương diện nào đó, hỡi con?

Đạo là chi? Rồi khi thành phải ra sao? Vậy thì Thầy giải đáp cho con biết: Thượng Đế vị nhân sanh mà khai đạo pháp để con cái của Thầy học hỏi và hành theo đúng chánh pháp. Đến ngày công quả viên mãn, sẽ trở về hiệp nhứt cùng Thầy. Lúc bấy giờ các con là Thầy, là Phật Tiên, Thánh Thần. Đó là đường lối tuyệt đích của Đạo.

Còn trước cơ Đạo ngày nay, các con muốn thành, trước nhứt lòng con phải thành. Thành để hành cho đúng, không cải canh, không thêm bớt, không chia rẽ, dụng đức hy sinh để cảm hóa cho nhau. Các con đừng e ngại không người dắt lối đưa đường. Chỉ ngại cho lòng con chưa thành. Khi lòng con đã thành, tri, thuyết, hành như nhứt, thì các con sẽ thấy lý siêu việt đến với các con, là ngày mà cây Phổ Thông Giáo Lý đơm bông kết quả.

Về ngữ nghĩa, chữ Thành trong đoạn Thánh giáo của Đức Chí Tôn có hai nghĩa:

1. Thành 成 = thành công, thành tựu.

2. Thành 誠 = thành thực, thành tâm, chí thành (thành 誠 = bộ ngôn 言 + thành 成)

Vì sao chữ Thành trong ý nghĩa thành thực, thành tâm hay chí thành lại có bộ ngôn? Ngôn là lời nói. Người có lòng thành thực hay chí thành thì lời nói và việc làm không hai, như lời Đức Chí Tôn đã dạy trên đây: “Khi lòng con đã thành, tri, thuyết, hành như nhứt”.

Do đó, trong lời ban khen của Đức Chí Tôn dành cho đạo trưởng Huệ Lương “Mặc dầu chưa thành công, nhưng ý chí đã thành”, thì ý chí đã thành tức là ý chí đã kiên định, bất thối chuyển. Chữ thành nơi đây cũng hàm nghĩa là chí thành, bởi lẽ một khi đã chí thành thì lòng người không còn thay đổi nữa, nói và làm như nhứt.

Ngoài đời, người ta có thể thành công nhờ vào tài năng hay sức mạnh hay mưu mô xảo trá, nhưng trong cửa đạo thì lòng chí thành mới là yếu tố quyết định sự thành công của hành giả. Do đó, gần 20 năm sau ngày Đức Chí Tôn dạy về chữ Thành, Đức Giáo Tông Vô vi Đại Đạo cũng lại nhắc nhở người nhân viên Cơ Quan về chữ Thành. Ngài dạy:

Này chư hiền đệ hiền muội! Đạo pháp trường lưu mà đời người thì hữu kiếp. Đạo lý mênh mông mà trí người hữu hạn. Đạo sự ngổn ngang mà sức người hữu giới. Hữu kiếp, hữu hạn, hữu giới đã nêu lên hình ảnh bé bỏng của con người trước không gian vô tận, vũ trụ vô biên. Lấy cái hữu hạn đó mà đem so với cái vô biên thì nó có ý nghĩa gì đâu!

(…)

Cho đến nay, khoa học tiến bộ của con người nói là cao điểm hiện đại, nhưng cũng chỉ trong gang tấc đối với cái bao la vô tận đó. Trong lãnh vực đạo giáo cũng thế. Cho đến nay, tâm thức nhân loại đã đạt đến chỗ cao điểm hiện đại nhưng cũng chỉ trong gang tấc đối với Đấng Thế Tôn chánh đẳng chánh giác, và trong phân ly đối với bậc đại giác ngộ kim tiên nguyên thủy. Tuy vậy, sự tiến hóa của hai lãnh vực vừa nêu trên hãy còn phôi thai khiêm tốn, nhưng tại sao đã có những hàng giáo tổ, những bậc vĩ nhân đã được lưu danh thanh sử? Đó là điều mà Bần Đạo muốn nói với chư hiền đệ hiền muội có trách nhiệm đối với guồng máy Cơ Quan sau cùng của Đại Đạo. Hay nói một cách khác, cứu cánh rốt ráo của tôn giáo, đạo giáo là cứu khổ chúng sanh, giải thoát con người khỏi vòng nô lệ của ma tâm vọng thức, nhưng đến nay chúng sanh vẫn còn đau khổ, con người vẫn còn nô lệ bởi vọng thức ma tâm, thế nhưng sao lại có những bậc giáo tổ, đạo gia, sứ đồ, chức sắc, chức việc, tín hữu được thành Tiên thành Phật, đắc Thánh đắc Thần trong lịch sử tôn giáo? Đó là điều mà Bần Đạo muốn nói với chư hiền từ hàng lãnh đạo Cơ Quan đến các em thanh thiếu niên tiếp nối.

Bần Đạo tạm ngưng trong khoảnh khắc để chư hiền đệ hiền muội và các em giáo sĩ, tu sĩ hãy phát đại ngôn cho cả đàn cùng nghe.

(ĐT.Chơn Tâm bạch ...)

(Chí Tín bạch ...)

(Nguyễn Văn Trạch bạch ...)

Nào Giáo Sĩ!

(Huệ Ý bạch ....)

(Huệ Nhẫn bạch ...)

(Diệu Chơn Quang bạch ...)

Phải đấy chư hiền đệ, hiền muội. Đó là lời dạy của Đức Chí Tôn trong khi ban ân phong Tiên vị Quảng Đức Chơn Tiên cho lão hữu Trần Văn Quế. Lời dạy như sau: "Mặc dầu chưa thành công nhưng ý chí đã thành."

Bần Đạo muốn nói lên ý chí phụng Thiên sự dân đó chư hiền đệ, hiền muội.

Ý chí là gì? Là quyết tâm của hành giả, là sự kiên trì bất thối chuyển của hàng hướng đạo Thiên ân. (…)

Bần Đạo không đưa ra những gì vượt quá tầm vói của chư đệ muội. Bần Đạo cũng không bảo chư hiền phải noi gương tử đạo của Giê-su, Bần Đạo chỉ khuyên chư hiền đệ, hiền muội hãy làm đúng lời dạy cũ từ mấy năm qua của Ơn Trên về nội tu và ngoại tu. Những gì đã được ban trao và dạy bảo, chư hiền đệ muội hãy lấy tâm chí thành thực hành cho đến nơi đến chốn sẽ thấy được kết quả, được Trời, được Đạo, được Tâm.

(…)

Chư hiền đệ hiền muội nhớ lời dạy của Bần Đạo hôm nay. Thành là thành trong nhiệm vụ, thành trong ý chí, thành trong mỗi giai đoạn. Trong mỗi giai đoạn đều có mỗi ý nghĩa khác nhau. Chư hiền đệ muội cố gắng. (…)

Bần Đạo mong mỏi sự thành công của chư hiền.” (CQPTGL, 15-02 Nhâm Tuất, 10-3-1982)

Qua lời dạy của Đức Giáo Tông, chúng ta thấy rõ sự thành công không phải ở kết quả chúng ta đạt được mà sự thành công chính là ở chỗ tâm đạo chí thành. Đức Đông Phương Chưởng Quản cũng dạy không khác:

Chư đệ muội lưu ý, lần lượt sẽ trở về cùng Thượng Đế, tất nhiên phải hoàn thành một sứ mạng mà chính mình đã biết và đã lãnh. Hoàn thành không phải căn cứ ở chỗ tiếng đời ca ngợi, miệng thế tặng khen, hay hoàn thành trước một đền đài nguy nga tráng lệ, hay hoàn thành trên một ngôi vị cao cả, mà hoàn thành ở chỗ cái tâm chí thành trước khi rũ áo ra đi. Chí thành mới là sứ mạng hoàn thành trước Thượng Đế, trước Tam Giáo Tòa đó chư đệ.” (CQPTGL, 19-8 Tân Hợi, 07-10-1971)

Chính vì ý chí, quyết tâm và lòng chí thành có tầm quan trọng như thế nên từ xa xưa, người tham cầu đạo pháp phải có lòng chí thành mới được các đấng chơn sư thâu nhận làm đệ tử. Chẳng hạn như ngài Thần Quang tức Huệ Khả, Nhị Tổ Thiền Tông Trung Hoa, khi cầu đạo với Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã bị từ chối, ngài phải quỳ gối mấy ngày đêm dưới trời tuyết sương giá lạnh mà vẫn không được thầy chấp nhận. Cuối cùng, ngài đã tự mình đoạn lìa cánh tay trái dâng lên thầy để tỏ lòng quyết tâm cầu đạo. Lúc bấy giờ ngài mới được thầy thâu nhận làm đệ tử.

Trong quyển Dịch Kinh Huyền Nghĩa do Minh Lý Thánh Hội ấn hành năm 1966, Đức Thánh Trần Hưng Đạo thuật lại chuyện vua Huỳnh Đế là bậc đế vương, cha chúa của dân thế mà phải ba phen đến cầu đạo mới được Đức Quảng Thành Tử chấp nhận.

Lần thứ nhất Huỳnh Đế lên núi cầu đạo mà đem theo cả xe cộ và đoàn tùy tùng, Đức Quảng Thành Tử nằm chứ chẳng ngồi mà tiếp lại còn quở trách đủ điều. Ngài bảo rằng đi học đạo như Huỳnh Đế chưa đủ lễ bên ngoài, chưa đủ kỉnh bên trong, còn xe ngựa, còn áo xiêm, còn kẻ hầu người hộ, thì cầu đạo chưa đủ.

Lần thứ hai, Huỳnh Đế một mình đến cầu đạo nhưng Đức Quảng Thành Tử vẫn không thuận.

Phải đến lần thứ ba, Huỳnh Đế đích thân mặc y phục dân dã, tự quỳ đi bằng đầu gối từ chân núi đến trong động tiên, máu rơi từng giọt, dính cả sỏi đá. Thật lòng cầu đạo đến mức như thế mới được Đức Quảng Thành Tử thâu nhận.

Chúng ta hiểu rằng không phải các bậc chơn sư muốn làm khó kẻ cầu đạo mà chính vì muốn trắc nghiệm ý chí hay lòng quyết tâm của đệ tử, bởi lẽ việc học đạo pháp không phải là chuyện dễ dàng, nếu không có ý chí thì cũng sẽ bán đồ nhi phế.

Thái Tử Sĩ Đạt Ta khi xưa từ bỏ ngai vàng để đi tìm đường giải khổ cho bản thân và cho chúng sanh. Sau 49 ngày liên tục tọa thiền dưới cội cây bồ đề đã khai mở được trí huệ chứng quả chánh đẳng chánh giác, ấy là nhờ Ngài đã kiên quyết thệ nguyện nếu không ngộ được đạo lý nhiệm mầu thì nhứt định không rời khỏi cội bồ đề cho dù thịt nát xương tan.

Câu chuyện thầy Đường Tăng đi thỉnh kinh ở Tây Trúc cũng nói lên ý công chưa thành nhưng chí đã thành.

Theo sử sách còn ghi lại thì sau khi chia tay tên học trò bất hảo, Đường Tăng một mình đi vào sa mạc với con ngựa hồng già ốm. Tới phong hỏa đài thứ nhất, ông suýt bị trúng tên của lính canh. Quan trấn thủ không thể thuyết phục ông bỏ ý định Tây du đã chỉ cho ông đường tắt đi tới phong hỏa đài thứ tư. Quan trấn thủ chỉ đường cho ông đi tránh phong hỏa đài thứ năm để tới sa mạc Gobi nằm ở phía bắc Trung Quốc rộng 1.295.000 cây số vuông.

Sau một ngày đường chừng trăm dặm, ông lạc lối trong sa mạc Gobi, lại còn tuột tay làm đổ hết nước dự trữ. Ông quay ngựa trở lại phong hỏa đài thứ tư lấy nước. Đi được chừng mười dặm, ông bỗng hồi tâm nhớ lời phát nguyện: “Nếu chưa đến được Tây Trúc thì dù chết cũng không quay trở lại phương Đông.” Thế là ông quành ngựa lại để tiếp tục đi về phương Tây, người và ngựa đều khát khô trên cát bỏng.

Sang ngày thứ năm, ông và ngựa ngã quỵ, mê man. Đến nửa đêm, như có phép lạ, trận gió mát lạnh từ đâu thổi tới, con ngựa đứng lên hý vang, ông chợt mở mắt ra, gượng leo lên lưng ngựa. Rán đi thêm vài dặm, ông gặp bãi cỏ xanh mướt bên dòng suối trong veo, thế là người và ngựa thoát nạn chết khô. Ông cho ngựa đi thêm hai ngày nữa mới ra khỏi sa mạc Gobi, tổng cộng đi hết tám ngày, vượt qua 800 dặm.

Câu chuyện của thầy Đường Tăng không những cho chúng ta thấy rằng lòng quyết tâm bất thối chuyển đã giúp cho Ngài thành công mà còn nói lên rằng người có lòng chí thành luôn được Thiêng Liêng âm phò mặc trợ. Thật vậy, Đức Lê Đại Tiên đã có lần xác nhận rằng:

Chư hiền đệ, hiền muội nên nhớ rằng Thiêng Liêng lúc nào cũng âm phò mặc trợ tùy theo lòng chí thành của chư hiền đệ, hiền muội. Trình độ nào cũng được dìu dẫn, chẳng lựa quý tiện phú bần, không đợi tài hay sức mạnh. Lòng chí thành sẽ đem đến cho chư đệ muội những toàn năng toàn giác. Nếu chư đệ muội sụt sè hay có những ý tưởng mơ hồ, nhẹ đức tin, thì dầu việc nhỏ như việc hằng ngày cũng không làm nổi, lựa là phổ độ nhơn sanh.” (Ngọc Minh Đài, 14-9 Ất Tỵ, 08-10-1965)

Quả là một điều may mắn khi được sanh ra trong Kỳ Ba đại ân xá mà lại được hạnh ngộ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, bởi lẽ sự trở về cùng Đức Chí Tôn Từ Phụ đã được các Đấng Thiêng Liêng bảo đảm, chỉ với một điều kiện, đó là lòng nhứt tâm tu niệm của mỗi hành giả như lời Đức Đông Phương Chưởng Quản đã khẳng định:

Đức Thượng Đế ban đại ân xá Kỳ Ba, hễ nhứt tâm tu niệm, dầu đạt được đến sở đích của Đạo hay chưa đạt đến mà đã chí thành chí kỉnh tu thân học đạo vẫn được ân ban thành đạo tùy theo công đức mà đắc vị.” (CQPTGL, 28-5 Tân Hợi, 20-6-1971)

Trong lãnh vực công phu tu luyện cũng thế, chỉ cần có lòng quyết tâm thực hành pháp môn cho thật dũng mãnh thì dù hành giả đang ở cấp bậc đạo pháp nào cũng có thể tu chứng được. Đức Như Ý Đạo Thoàn Chơn Nhơn đã xác nhận điều này như sau:

Chỉ cần chư đệ muội công phu tu tập cho thật dũng mãnh sáng suốt, dầu đạo pháp ở cấp bực nào cũng có thể tu chứng được.” (CQPTGL, 29-8 Quý Hợi, 05-10-1983)

Tóm lại, qua lời dạy của các Đấng cũng như qua tấm gương hành đạo nhứt tâm bất thối chuyển của đạo trưởng Huệ Lương -- người anh cả của các thế hệ nhân viên CQPTGLĐĐ -- có thể rút ra một bài học rằng không nên mặc cảm tự ti khi đem khả năng hữu hạn của mình đối chiếu với quy mô, tầm kích vĩ đại của sứ mạng Cao Đài mà hãy luôn đem hết lòng chí thành để thực hiện những nhiệm vụ được giao phó trong từng niên trình hành đạo. Ơn Trên đã dạy rồi, sự thành công hay thất bại của người tu cốt yếu ở chỗ tâm chí thành mà thôi.

Nên công do bởi chí thành,

Nhứt tâm trên dưới thác ghềnh vượt qua.

(Đức Giáo Tông Đại Đạo, CQPTGL, 03-5 Bính Dần, 09-6-1986)

 

Thanh Mai

(Source: Blog của Thánh thất Bàu Sen)