![]() |
|
THIÊN LƯ BỬU T̉A |
![]()
|
T̀M HIỂU Ư NGHĨA 2 CHỮ "CAO-ĐÀI" |
|
Huệ-Ư |
(Trích TSCĐGL Tây Đức số 34)
Trong bài này,
chúng
tôi không đưa ra ư kiến mới mà chỉ tổng
hợp các tài liệu từng đề cập đến
danh xưng "Cao Đài" theo một bố cục tương
đối rơ ràng mạch lạc, để chư độc
giả tham khảo.
A - Tầm quan trọng :
Hai tiếng Cao Đài gần
gủi quá đến nỗi chúng ta quên đi v́ quen
thuộc mà không t́m hiểu ư nghĩa thâm sâu. Thực
sự hai tiếng Cao Đài đă có một tầm quan
trọng, đến nỗi :
1.- Đức Ngô Đại Tiên
đă viết câu sau đây trên vách pḥng Ngài và lập
đi lập lại
"Cao Đài ứng hóa trong ḷng
chúng sanh,
Đố ai có biết cái danh Cao Đài !"
2.- Đức Chí Tôn đă cấm bàn đến hai tiếng Cao Đài trong một đàn cơ như sau:
" Thầy các con.
Các con tịnh tâm nghe Thầy hỏi:
...........
C̣n hai chữ Cao Đài nghĩa là ǵ !
K..... bạch....... Cười......Cười......Cao Đài.... cười, M.L.T Thầy cấm các con bàn về hai chữ Cao Đài nghe. Chờ đến Long Hoa Đại Hội sẽ rơ......
(Hai tài liệu trên rút trong quyển lịch sử Ngô
Minh Chiêu)
B. Nguồn gốc hai tiếng Cao Đài
:
Các văn kiện nào xa xưa
và các văn kiện nào hiện đại đă đề
cập 2 tiếng Cao Đài :
I. Xa xưa chúng ta thấy
có:
A) Tiên tri
trong quyển Vạn Pháp Qui Tông: Quyển này do các
đạo sĩ truyền lại hơn mấy trăm năm
nay. Đức Ngô Đại Tiên thuở ban đầu có
cầu cơ với các bài thỉnh Tiên rút ra từ
quyển này. Trong Vạn Pháp Qui Tông có câu :
" Cao Đài Tiên Bút thi văn tự" chỉ rơ trong Đạo
Cao Đài có thơ văn của chư Tiên do thần cơ
diệu bút tiếp ra.
B)
Lời tiên tri của các Lăo Sư Chi Minh Sư hay là Đại
Đạo bên Trung Quốc: Sau khi nhà Thanh lên thay thế
nhà Minh, một số cựu thần nhà Minh không phục
nhà Thanh bèn lên núi ẩn tu lập ra chi Minh Sư, Minh Đường
hay là Đại Đạo. Một quyển kinh của các Lăo sư
phái này đă được chuyển từ Trung Quốc
sang Việt Nam, ngoài b́a sách có hai câu thơ tiên tri như
sau:
" Cao như Bắc
Khuyết nhân chiêm ngưỡng
Đài tại Nam Phương Đạo thống
truyền "
Hai câu đối
này cho biết Đạo Cao Đài sẽ xuất hiện
tại Nam Phương mà Đức Cao Đài là Giáo Chủ, Đức
Cao Đài tức là Đức Huyền Khung Cao Thượng Đế
Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn, ngự tại phương
Bắc hay là Bắc Khuyết.
C)
Lời tiên tri trong Minh Thánh Kinh Linh sám :
Trong quyển này có câu :
" Mạng hữu Cao Đài Minh Nguyệt chiếu " cho
biết tánh của Đức Thượng Đế giáng
trần mở nền Chơn Giáo, sáng tỏ như Trăng
rằm.
D)
Lời tiên tri trong sách : Ấu Học Tầm Nguyên.
Sách có câu : "Đầu Thượng
Viết Cao Đài" nghĩa là nơi ở trên đỉnh
đầu mọi người th́ gọi là Cao Đài.
E)
Kinh Nhựt Tụng của một phái tu thân tại Trung
Việt :
Tại Trung Việt 20 năm
trước ngày khai Đạo (năm 1926) có một phái người
tu theo lối cư sĩ lấy hiệu là phái Minh Sư,
mỗi ngày đọc kinh có thêm câu:
"Con cầu Phật Tổ
Như Lai
Con cầu cho thấu Cao Đài Tiên Ông"
Khi các Giáo sĩ
Đạo Cao Đài ra truyền Đạo tại Tam Quan (Trung
Việt) th́ mấy vị này sau khi nghe danh hiệu đức
Cao Đài đều đến xin làm đệ tử ngay.
F)
Lời tiên tri lưu truyền tại Trung Việt đă lâu
đời trước năm khai Đạo (1926):
"Canh Dần Mậu Dần niên,
Kỷ Măo Canh Th́n tiền;
Tự nhiên Thiên phú tánh,
Cao Đài tân chân truyền."
Lời tiên
tri này nói rơ năm và báo trước rằng : "
Trời sẽ khiến ḷng người theo Đạo mới
và Đạo Cao Đài sẽ đạt chân truyền."
G)
Lời tiên tri của chơn linh cụ Thủ Khoa Huân cho năm
1913 (13 năm trước ngày khai Đạo)
Tại quận Cao Lănh
Việt Nam ngày 3 tháng 2 năm 1913 các ông văn Nho, kỳ hào
có họp nhau tại nhà ông Lê quang Hiển nhạc phụ
của ông Diệp văn Kỳ, để pḥ cơ
thỉnh Tiên, khi cơ lên chơn linh cụ Thủ Khoa Huân,
một nhà cách mạng bị tử h́nh tại Mỹ Tho
giáng cơ cho bài thơ sau đây:
Tứ triêm đào lư nhứt môn xuân
Canh tân bôi ức giang san cựu
Trừ cựu thời thiên tuế nguyệt tân
Cửu thập thiều quang cơ bán lục
Nhất luân minh nguyệt vị tam phần
Thừa nhàn hạc giá không trung vụ
Mục để Cao Đài tráng chí thân "
Thích môm: (của cụ Thủ Khoa Huân)
Co dủi Cao Đài khỏe tấm thân
Dạo xem đào lư đượm màu Xuân
Giang san chẳng khác ngàn năm cũ
Ngày tháng chờ thay một chữ tân
Chín chục thiều quang vừa nửa sáu
Một vầng trăng rạng chứa ba phần
Thừa nhàn cỡi hạc không trung ruổi
Chạm mắt Cao Đài khỏe tấm thân.
Trong hai bài thơ
có nhắc đến danh từ Cao Đài.Thời buổi
ấy các ông không rơ danh từ ấy có nghĩa ! Song các
ông biết rằng đại cương hai bài thơ
ấy có nói về quốc vận một cách sâu xa. Hai câu
thi 5 và 6 có ư kỷ niệm ngày 3 tháng 1 năm 1913 vào câu
và câu nào cũng ngụ ư số 3. Sau đàn cơ ấy
ông Lê quang Hiển để hai bài thơ này lên trang
thờ để làm kỷ niệm.
Măi đến năm 1927 Ṭa
Thánh Tây Ninh phái chức sắc đến quận Cao Lănh
truyền Đạo và khi chữ Cao Đài đă dược
mọi người nói đến. Chừng ấy ông Lê
quang Hiển mới nhớ lại hai bài thơ của
cụ Thủ khoa Huân đă cho 13 năm trước và
đem ra tŕnh với chư chức sắc nói trên.
(Tài liệu tiên tri rút trong quyển Đại Đạo
Tam Kỳ Phổ Độ (Cao Đài Giáo sơ giải) của
Đạo Trưởng Huệ Lương)
II- Hiện đại:Về
nguồn gốc phát tích hiện đại đối
với hai nhóm Vô Vi và Phổ Độ như sau:
1.- Đối với Đức Ngô Đại
Tiên : Đức Chí Tôn xưng danh Cao Đài lần đầu
tiên vào năm 1920 trong một dịp như sau :
Đầu năm 1920 trước
khi đổi ra làm việc ở Hà Tiên, tại Tân An,
Ơn Trên dạy đức Ngô chỉnh đốn
việc cầu Tiên, tập dượt đồng tử
mới thủ Ngọc cơ.
Vào một buổi đàn cơ do đồng tử âm dương (Nguyễn văn Vân và ông Bộ Thọ) Pháp đàn là ông Trần phong Sắc, ông Kim là điển kư và Đức Ngô làm độc giả. Khi đọc đến câu:
"Ngũ chơn bửu khí lâm triều
thế.
Giá hạc đằng vân xiển tự nguyên."
Có một
vị Tiên Ông giáng xưng là Cao Đài Tiên Ông, cơ gơ
mạnh và bảo ông Trần phong Sắc sửa lại hai
câu ấy. Ông Sắc vốn là một nhà Nho sành sỏi,
nhưng không biết Cao Đài Tiên Ông là ai, nên trả
lời một cách suồng să rằng: "Bài thỉnh Tiên
này ra 100 năm về trước rồi, từ bên Trung
quốc qua đây không ai dám cho là sái, nay Ngài bảo
sửa, nói vậy là thiệt trật hay sao?"
Tiên Ông quơ cơ đập
vào đầu ông Sắc v́ vô lễ, ông lẹ hụp
xuống tránh khỏi. Kế Đức Cao Đài Tiên Ông
gọi tên Đức Ngô biểu sửa. Ngài bèn sửa như
vầy:
"Bửu Chơn ngũ khí lâm triều thế"
Tiên Ông khen.
Cả nhóm người đều chưa hiểu Đức Cao Đài là ai. Riêng Đức Ngô tin rằng đó là ông Trời mới dám sửa kinh sách từ xưa như vậy.
2. Đối với nhóm đệ tử
thứ hai (về Phổ Độ).
Chậm hơn đức Ngô
ít năm, quí vị tiền bối Cao quỳnh Cư,
Phạm công Tắc, Cao hoài Sang, và các vị khác nữa
từ tháng 7/1925 tập xây bàn cơ tại nhà cụ Cao
hoài Sang. Lúc đầu là hồn thân quyến về, sau
đó Ơn Trên dạy Đạo cho các ông.
Một Tiên Ông xưng là A Ă Â biểu các ông phải kêu bằng Thầy và Ngài gọi các ông là "con" .
Cho đến
đêm Noel 1925 Tiên Ông mới xưng " Ngọc Hoàng Thượng
Đế viết Cao Đài Giáo Đạo Nam Phương "
.....
" Bấy lâu Thầy vẫn tá danh A Ă Â là để
d́u dắt các con vào đường đạo đức
hầu chẳng bao lâu đây các con sẽ ra giúp Thầy mà
khai Đạo. Các con thấy Thầy khiêm nhường dường
nào chưa ? các con nên bắt chước Thầy trong
mảy mún th́ mới xứng đáng là người đạo
đức " .
(hai tài liệu này trích từ quyển
lịch sử Đức Ngô Minh Chiêu)
C. Ư Nghĩa:
Chúng ta sẽ t́m hiểu sự tá danh của Đức Thượng Đế, danh hiệu đầy đủ và hai tiếng Cao Đài nh́n theo kinh dịch.
1. Sự tá danh :
Cao Đài chỉ là một tá
danh của Đức Thượng Đế mà thôi. Tá là mượn,
danh là tên, v́ thật sự không có một danh từ nào gói
trọn vẹn được sự vinh quang của Đức
Thượng Đế, cho nên từ xưa, người ta
đă đi đến gần Ngài khi xưng tụng Ngài là
" Đấng Vô Danh " (Thánh Faulkhi đến Athème
giảng Đạo tại đại hội nghị Aré, đă
gặp một tế đàn tại thành Athème trên có
khắc " Kính Thần Vô Danh " (theo kinh Thánh Tân Ước).
Tá danh là mượn tên.
Vậy hai tiếng Cao Đài Đức Thượng Đế
đă mượn từ lâu !.
Vào năm 1927, trong một đàn cơ ở Cần Thơ, Đức Thượng Đế cho cho một bài thi như sau:
Linh Tiêu nhứt tháp thị Cao Đài
Đại hội quần Tiên thử ngọc giai
Vạn trượng hào quang tùng thử xuất
Cổ danh bửu cảnh Lạc Thiên Thai.
Có nghĩa: Nơi điện Linh Tiêu trên Thiên Đ́nh có một ngôi tháp tên gọi là Cao Đài, quần Tiên thường nhóm họp ở trước bệ ngọc ấy, hào quang muôn trượng do đó mà phát ra. Tên xưa của cảnh quí báu ấy là " Lạc Thiên Thai".
Như vậy Cao Đài chính là tên một ngôi tháp trên Thiên Đ́nh mà Ngài đă mượn vậy. Cùng một ư nghĩa trên ta t́m được nơi trang đầu sách Thánh bằng chữ Hán do Hội truyền Giáo của người Anh xuất bản năm 1913 ở Thượng Hải có câu:
"Hỡi Đấng Jéhovah, Ngài là cái lâu đài cao thượng mà nơi đó chúng con có thể ẩn trú ".
Nếu khởi đầu chúng ta thấy Đức Ngôi Hai đă từng đặt câu hỏi :
"Cao Đài ứng hóa theo ḷng chúng sanh,
Đố ai có biết cái danh Cao Đài ?"
th́ đặc biệt thay Ngài đă giải thích hai tiếng Cao Đài trong dịp giảng nghĩa danh từ "Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lư Cao Đài Giáo Việt Nam" như sau:
"Cao Đài là một tá danh của Thượng Đế khi đến mở Đạo tại Việt Nam. Đài cũng là cái Đài, cái Đài tối cao trọng đại, chứa đựng từ bi, cảm ứng, trung thứ, Tam qui, Ngũ giới, Tam Nguơn, Ngũ hành, Tam Cang, Ngũ Thường. Đài là nơi, là vị trí tập trung tất cả xu hướng Đạo giáo hay tôn giáo phát tiết ra từ nơi đây "
Từ Bi, Tam Qui, Ngũ Giới thuộc Phật giáo.
Cảm Ứng, Tam Nguơn, Ngũ Hành thuộc Tiên giáo.
Trung Thứ, Tam Cang, Ngũ Thường thuộc Nho giáo.
Đài là nơi Tam giáo hiệp nhất, là ṭa nhà đại đồng qui tụ tất cả các tôn giáo mà xưa kia đă từ nơi đây tung ra các nơi.
Đức Ngô có dạy bằng văn vần:
Cao Đài chỗ Thiên nhơn hiệp nhứt
Tá danh hầu cứu vớt vạn linh
Trong cơn thay xác đổi h́nh
Hạ ngươn mạt kiếp phục sinh tánh lành.
" Cao Đài chỗ Thiên
nhơn hiệp nhứt " từ cái nh́n Cao Đài
thật xa đă đem về thật gần gũi chúng
ta, nơi mỗi người chúng ta Cao Đài tức là Nê
Huờn Cung mà câu " Đầu Thượng viết Cao Đài
" đă giảng giải, đó là nơi Thiên Nhơn
Hiệp Nhứt, nơi mà Tinh Khí Thần hiệp một
ở ngày đắc Đạo như Chí Tôn đă dạy :
" Thần là khiếm khuyết của cơ mầu
nhiệm, từ ngày Đạo bị bế. Lập Tam Kỳ
Phổ Độ nay duy Thầy cho Thần hiệp Tinh Khí
đặng hiệp đủ " Tam Bửu " là cơ
mầu nhiệm siêu phàm nhập Thánh " .
(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển)
2.
Danh hiệu đầy đủ:
Danh hiệu đầy đủ của tá danh là:
" Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát "
Nam Mô: chữ
phạn trong kinh Phật có nghĩa : Chắp tay, cúi đầu,
cung kính thỉnh nguyện.
Cao Đài : thuộc Đạo
Nho, sách Ấu Học Tầm Nguyên của Nho giáo có câu :
" Đầu Thượng viết Cao Đài "
Tiên Ông : một vị Tiên
, thuộc Đạo Tiên (Lăo)
Đại Bồ Tát Ma Ha Tát :
Bồ Tát theo tiếng phạn là vị đă tự giác
được bản tính, nhưng không an hưởng mà
tiếp tục phổ độ chúng sanh (Quán không bất
chứng), thuộc Đạo Phật.
Trong danh hiệu của Ngài
biểu hiện tôn chỉ của Đạo Cao Đài là Tam Giáo
Qui Nguyên, Ngũ Chi Hiệp Nhứt. Sự sắp đặt
một cách qui cũ từ Cao Đài đến Tiên Ông
rồi Đại Bồ Tát là con đường gồm năm
giai đoạn mà người tu phải đi để
thoát cảnh trần ai.
Cao Đài bao gồm 3 mối Đạo lớn
trong đó có 5 giai đoạn:
Đạo
Nho gồm: Nhơn Đạo, bổn phận
đối với gia đ́nh. Thần Đạo: bổn
phận đối với quốc gia. Thánh Đạo:
bổn phận đối với xă hội. Ba giai đoạn
trên thuộc phần nhập thế và nửa xuất
thế. Tiên Đạo và Phật Đạo
: Phần xuất thế tu tánh luyện mạng để
thoát ṿng luân hồi sanh tử. Theo danh hiệu của Đức
Chí Tôn, người tu hành phải đi từ giai đoạn,
tuần tự liên tiếp nhau, từ thấp lên cao,
từ Nhơn Đạo đến Thiên Đạo hầu hoàn
tất con đường tu học để trở
về hiệp nhứt với khối Đại Linh Quang.
Ư nghĩa của việc
Nho giáo đến Lăo giáo rồi Phật giáo đă
được Đức Thượng Đế giảng trong
đàn cơ 15/9 Bính Dần như sau :
" Thầy lập Phật giáo vừa khi khai Thiên lập địa nên Phật giáo là trước, kế Tiên
giáo rồi Nho giáo. Nay hạ nguơn hầu măn, phải phục lại như buổi đầu nên phản
tiền vi hậu:
Tỷ như lập Tam giáo qui nhất th́:
Nho là trước
Lăo là giữa
Thích là chót.
Nên Thầy phải ngồi sau chư Phật, Tiên, Thánh, Thần mà đưa chúng nó lại Vô Vi chi khí, chính là Niết Bàn đó vậy ".
(Thánh Ngôn Hiệp Tuyển)
Số chữ
trong câu tá danh của Đức Chí Tôn gồm có 12. Đó là
số đặc biệt của Đức Chí Tôn mà Ngài
đă giảng như sau :
"Lạy Thầy 12
lạy là tại sao? Các con không biết đâu ! Thập
nhị khai Thiên là Thầy. Chúa cả Càn khôn thế
giới, nắm trọn Thập Nhị Thời Thần vào
tay. Số 12 là số riêng của Thầy." (TNHT, tr.12)
Trong một đàn cơ
tại Liên Hoa Cửu Cung vào khoảng 1940, một vị
Hội trưởng hội Phật học thời bấy
giờ dâng một cái khải có 6 chữ " Nam Mô A Di
Đà Phật ". Hôm đó Đức Thượng Đế giáng
cơ và minh như sau: "Thập nhị tùng lục"
và Ngài cho biết câu tá danh 12 chữ "Nam Mô Cao Đài Tiên
Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát" ngày hôm nay là do 6
chữ "Nam Mô A Di Đà Phật" xưa kia mà ra (Cao
Đài Giáo Lư số 6 năm thứ tư-1968).
Câu danh hiệu trên thể
hiện sự khiêm nhường của Đức Thượng
Đế để dễ dàng độ rỗi nhơn sanh:
"Các con coi bậc Chí Tôn như Thầy mà hạ ḿnh độ rỗi nhơn sanh là thế nào, phải xưng là một vị Tiên Ông và Bồ Tát hai phẩm chót của Tiên Phật. Đáng lẽ thế thường phải để ḿnh vào phẩm tối cao, tối trọng, c̣n Thầy th́ khiêm nhường là thế nào!
Hạnh khiêm nhường
là hạnh của mỗi đứa con, phải
noi theo gương Thầy mới độ rỗi thiên
hạ đặng. Các con phải khiêm nhường sao cho
bằng Thầy" . (TNHT,tr.41)
3. Hai tiếng Cao Đài theo kinh Dịch:
Đàn cơ tại đảo Phú Quốc, giờ tư đêm rằm tháng 8 Ất Sửu (1925) Đức Quan Thánh Đế Quân dạy:
.... " Kỳ này lập Đạo, tá danh là Cao Đài là cái triệu chứng để lại muôn đời roi truyền trong Việt Nam, mà cũng là ngày năm châu loạn lạc, đao binh nổi dậy khắp nơi !
Chúng sanh khá nhớ : "Cao vi CÀN, Càn vi Thiên, Đài vi KHẢM, Khảm vi Thủy tức là quẻ "Thiên Thủy Tụng" th́ chạy đâu cho khỏi số Trời định đoạt binh lửa bốn phương. Những kẻ thiếu tu đành cam số phận .Cười, cười!"
(Quyển Cải Tử Huờn Sanh của ông Lê trung Nghĩa)
Theo kinh dịch trước quẻ Tụng là quẻ Nhu, Nhu nghĩa là ăn uống, v́ ăn uống tất sinh ra tranh nhau. Tụng nghĩa là tranh nhau. Quẻ Tụng trên là Càn, là Trời, dưới là Khảm là Thủy, Càn biểu dương cường dũng, nóng nảy táo bạo, Khảm biểu dương hiểm độc, mưu mô. Một bên hiểm, một bên kiện tất nhiên không chịu nhau, hoặc bề trong âm hiểm mà bề ngoài dương kiện cũng chẳng khỏi tranh nhau. Đă tranh nhau tất phải kiện, hoặc kiện bằng giấy bút, hoặc kiện bằng miệng lưỡi, hoặc kiện bằng đao binh, tổng chi là Tụng, nên đặt quẻ bằng Tụng.
Ở vào thời tụng, phe nào cũng tranh phần phải, thị phi hắc bạch rất hỗn hào, duy có người trung chính xử đoán bằng cách trung chính mới hay. Trung th́ chẳng thiên lệch về phía nào. Chính th́ chẳng dan díu với tư t́nh, thính đoán được công b́nh thời trong thiên hạ ai nấy cũng thỏa hiệp.
(Kinh Dịch Cụ Phan Bội Châu)
Sứ mạng Cao Đài Giáo trong thời Tụng chính là sứ mạng nhơn ḥa:
"Hộ con tạo thế nhơn ḥa
Trời Nam xây dựng Bửu Ṭa vạn linh".
Phụ thêm câu đối:
1.- Trước các Thánh Thất thuộc Ṭa Thánh Tây Ninh:
"Cao Thượng Chí Tôn Ḥa B́nh Dân Chủ Mục.
Đài Tiền Sùng Bái Tam Kỳ Cộng Hưởng Tự Do Quyền"
2.- Trước Thánh Thất B́nh Ḥa Gia Định
"Cao Thượng Hoằng Khai Đại Đạo qui nhứt bổn
Đài Tiền phổ hóa Tam Kỳ Hiệp Ngũ Chi".
Bài đến đây, chưa thể gọi là chấm dứt. Chỉ tóm tắt lại:
- Phóng ra th́ Cao Đài muôn vàn ư nghĩa "Cao Đài ứng hóa theo ḷng chúng sanh".
- Thu gọn lại "Cao Đài là Cao Đài"
Vấn đề của chúng ta là phải biết : biết phần phức tạp cũng như phần đơn giản.