B̀NH-MINH ĐẠI-ĐẠO III

 

Văn-Pḥng Đại-Đạo

Ngọ thời, 6-8 Canh-Tuất (6-9-1970)

Pháp Đàn: Huệ-Chiếu-Quang * Đồng Tử: Huệ-Linh-Thông

____________

(Tiếp điển)

Thi:

THÍCH hữu nguyên nhân bất nhiễm trần,

CA đề tái tạo lập Tân-Dân,

MÂU tâm thuẫn trí bàng môn giáo,

NI huệ minh châu chánh-pháp phân.

      THÍCH-CA MÂU-NI — Ta mừng chư đẳng chúng sanh an tọa nghe. Ta thọ lịnh DIÊU-TR̀ lai phàm tả quyển B̀NH-MINH ĐỆ-TAM lưu lại cho chư môn đồ đôi ḍng bút tích.

      Nầy chư môn đồ, Ta là một Thái-Tử, sống không đầy trăm tuổi, mà lo kế ngàn năm, th́ thân tứ đại sẽ hóa ra bùn dơ cặn bă, hồn linh chả biết nương tựa nơi nao. Nhờ tâm giác phóng đại tiền kiếp mà ngày nay tên Ta c̣n nằm trong ḷng chư chúng sanh, điển quang Ta măi rọi nơi ác thế ngũ trược v́ đại thệ của Ta chưa đạt, bởi chúng sanh c̣n mê; môn đồ thay thân Ta, mặc y mà hành không y. Thảm thay! Thương thay! Ḱa thiên Kinh vạn quyển, vạn lư nhứt chơn, có đâu là khó, khó bởi ḷng người chẳng chịu định tâm cho chơn như xuất hiện. V́ thế mà chơn giáo của Ta bị chinh đổ, không thành.

      Nay, kỳ Hạ-Nguơn, Đấng THƯỢNG-ĐẾ giáng lâm, hội Công-Đồng Tam-Giáo Ngũ-Chi Đại-Đạo để cứu đời, vạn thù qui nhứt bổn. Vậy môn đồ của Ta hăy vô tâm thiền định mà đi ngay vào con đường Đại-Đạo, ắt gặp Ta trong ngày cổi xác.

Bài:

       Ta thị ngă, chơn-linh THƯỢNG-ĐẾ,

       Giáng vườn Lam, cha Lỹ La-Thành,

              Thích-Ca phía Bắc-Ấn danh,

Dưới chơn Hy-Mă điềm lành báo tin.

       Tịnh-Phạn-Vương cha ḿnh mừng rỡ,

       Mẫu Gia-Ha ai nỡ ĺa thân,

              Lọt ḷng thất nhựt đơn thân,

Thiên thượng thiên hạ tứ ân lo đền.

       Tam-thập-nhị tướng tên làm dấu,

       Bát-thập in ai thấu kỳ h́nh,

              Sĩ-Đạt Thái-Tử thông-minh,

Sư phân ta biết thầy ḿnh ngạc nhiên.

       Ta tột đỉnh danh quyền lộc cả,

       Nghiệp Đế-Vương ta sá như chơi,

              Thê nhi Ta dứt nợ đời,

Giao du tứ hướng quyết thời đi tu.

       Đông phương dạo ngao du xem cảnh,

       Lăo già nua, trông chạnh năo-nùng,

              Nam phương người bịnh lạnh lùng,

Đớn đau khổ sở đất bùn lấp dơ.

       Tây phương ngộ t́nh cờ người chết,

       Cảnh đau buồn luyến-tiếc gia đàng,

              Ba lần xúc động tâm can,

Sanh lăo bịnh tử khổ nàn triền-miên.

       Lần thứ tư dạo miền phương Bắc,

       Gặp Sa-Môn tâm đắc hỏi-han,

              Đường tu ta đă lập tràng,

Về tâu phụ mẫu lên đàng xuất gia.

       Cha không thuận bày ra giải trí,

       Cảnh buồn rầu than-thỉ phủ vây,

              Thiếp hầu thuyết phục chẳng lay,

Ra đi Ta định chí nầy phải nên.

       Học Đạo mầu xây nền Chánh-giáo,

       Tầm phương-châm cải-tạo thế-gian,

              Thoát ṿng tứ khổ mênh-mang,

Trở về Thánh-Đức Tam-Hoàng như xưa.

       Ra khỏi thành ta chưa hiểu Đạo,

       ép xác phàm để tạo đường siêu,

              Gấm y đổi bộ thay chiều,

Khoác y đổi lớp qui-điều vị-tha.

       Thành Phê-Sa t́m mà Đạo cả,

       Chẳng bao lâu Vương-Xá mở đường,

              Nhiều Thầy chỉ giáo đa phương,

Định tâm tự tạo một đường phát minh.

       Khổ-hạnh lâm tự ḿnh triết-lư,

       Thấy sai lầm khắc kỷ sửa ngay,

              Sáu năm khổ ép xác này,

Ta liền thay đổi sửa rày phép tu.

       Sông Ni-Liên phá ngu phát huệ,

       Năm đệ-đồ xài-xể khinh ta,

              Cuối cùng mới thấy THÍCH-CA,

Đại-hùng đại-lực yêu ma kính nhường.

       Bồ-đề tọa, kim cương nhập định,

       Trí huệ minh chấn chỉnh tâm linh,

              Phật ma chỉ tại ḷng ḿnh,

Đại-thừa đại biện bóng h́nh tương quan.

       Đắc Đạo vốn tự toan giác ngộ,

       Thông tiền căn, trừ cố căn tâm,

              Nhăn-quan huệ thấu vật tâm,

Nhơn duyên thập nhị luân trầm quả phân.

       Tứ-Diệu-Đế luận phân Bát-Chánh,

       Tứ-Duy-Tường hiểu chánh phá tà,

              Luật Đạo thông suốt tinh hoa,

Qui-y Tam-Bảo vị tha quên ḿnh.

       Hỡi môn đồ! mấy ngh́n năm lẻ,

       Hỡi chúng sinh! mau lẹ lên đường,

              Long-Hoa mạt kiếp rán bươn,

Cha Trời giáng thế mở đường cứu nguy.

       ĐẠI-ĐẠO khai TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ,

       Danh CAO-ĐÀI qui cổ diệt kim,

              Ngũ-Chi Tam-Giáo qui nguyên,

Vạn thù nhứt bổn về đền Ngọc-Kinh.

       Ta lưu lại nhơn sinh môn đệ,

       Từ đại-thừa, tiểu kế, sơn môn,

              Cổ truyền Khất-sĩ nhị tông,

Thiên gia tinh hội Kỳ-Sơn Hảo-Ḥa.

       Đắc Đạo thành Thích-Ca thống nhứt,

       Cảnh phân ly địa-ngục bàng-môn,

              Ai là đệ tử Thế-Tôn?

Vị tha vong kỷ bảo tồn chơn tông.

       Ta vắn tắt đôi ḍng nhắn nhủ,

       Tin hay không văn tự làm bằng,

              Long-Hoa phán đoán đọa thăng,

Đại-đồng khỏi chối ăn-năn muộn màng.

       Một câu hỏi thí tràng đậu rớt,

       Hai mục-tiêu là thuộc chánh tà,

              Phân minh mê giác Phật ma,

Chữ Tâm thị ngă chẳng mà đâu xa.

       Nh́n Phật-tử ḷng ta thêm thảm,

       Thấy chư tăng mắc cạm bẫy trần,

              Ma vương tiếm ngự bản thân,

Thất-t́nh lục-dục ân-cần cải qui.

       Đường giải thoát Tam-Kỳ Đại-Đạo,

       Đấng CHÍ-TÔN chuyển giáo CAO-ĐÀI,

              Khai trung-dung, một đường ngay,

Lư chơn chỉ một Đạo rày không hai.

       Tán vạn thù Đông Tây Nam Bắc,

       Vốn đồng nguyên gieo rắc giống lành,

              Danh từ h́nh thức chia ranh,

Cho phường ma quỉ giựt-giành con ta.

       Qui Tam-Giáo một nhà Đại-Đạo,

       Hiệp Ngũ-Chi hườn đáo bổn nguyên,

              CAO-ĐÀI đạt bảng chánh truyền,

Con ta trổi bước xuống thuyền qua sông.

       Phá chấp ngă sắc không, không sắc,

       Tâm không b́nh vị đắc Như-Lai,

              Thích-Ca thị ngă Cao-Đài,

Cao-Đài thị ngă đổi thay danh từ.

       Lời ghi chép thiên-thư hư thiệt,

       Để truyền ra lưu thuyết môn-đồ,

              Phật ngôn điển giáng bày phô,

Hữu căn hữu kiếp xuống đ̣ kỳ ba.

Thi:

Kỳ ba lai đáo luật tuần-hoàn,

Sanh trụ hoại tồn tại Việt-Bang,

Hạnh ngộ Cao-Đài truyền Đại-Đạo,

Hỷ phùng Ngọc-Đế ngự trần gian.

Vạn thù qui nhứt chư tôn hội,

Tam ngũ huờn nguyên khải giáo tràng,

Cứu cánh mạt đời xây Thánh-Đức,

Thượng-Nguơn chuyển lập tạo vinh quang.

      Nầy chư môn sanh, cơi trần đầy ô-trược, mùi danh lợi nhử câu làm cho chư môn sanh đang lặn hụp kiếm t́m nên phải xa rời tâm đại-tịnh. Ḱa nh́n xem tịnh thủy b́nh bất động xuất hiện minh châu, như câu:

Nhơn tâm thường thanh tịnh,

Thiên địa tất giai tri.

      Nếu ḷng người được yên lặng th́ Trời Đất đều biết đó.

      Chư môn sanh nên ngăn ngừa v́ cơi trần nầy là:

Ái hà thiên xích lăng

      Sông ái-hà như làn nước vô h́nh khỏa vượt cao hơn ngàn thước, phủ nhận chư môn sanh, không định tâm khó mà vượt khỏi.

Khổ hải vạn trùng ba

      Bể khổ nơi cơi trần nầy như biển rộng mênh-mông khỏa biết bao vạn lượn sóng trùng-dương, đang gặp trận cuồng phong xô đẩy làm cho chư môn sanh dấy loạn tinh thần nên bị sóng nhận nhồi bản thân lẫn tinh thần đều ch́m đắm.

      Như thế, kiếp tạm nầy dù cho chư môn sanh tận hưởng mùi vinh hoa phú quí của đời cũng chưa vượt khỏi bể trần trong khi xao động. Thế rồi, ngày cổi bỏ xác phàm, hồn linh phải nương tựa vào đâu làm căn bản? Vậy môn sanh cần trau luyện tinh thần để ngày mai hậu làm một bút tích lưu đời. Như thế mới tṛn câu thệ nguyện trước Ngọc-Đài khi hạ thế.

      Nay tả quyển B̀NH-MINH ĐỆ-TAM, Tôn-Sư nhắc lại những điều kết quả trao cho chư môn sanh ghi nhận để tránh khỏi sự muộn ăn-năn như trước kia nơi Nghiệt-Đài chối cải.

      Tiếp lịnh, Huệ-Pháp.

      Tôn-Sư ban điển lành chư đẳng chúng sanh, điển hồi Cực-Lạc.

      Thăng...