KINH
SÁM-HỐI CẦU-AN
__________
Ðầu cúi lạy CHA-TRỜI
xuống phước,
Nay chúng con chầu trước bệ-tiền,
Khẩn cầu thế chúng bình yên,
Trước
cơ diệt thế Pháp-thuyền độ mau.
Ðời mạt kiếp hoàn-cầu biến
động,
Khắp năm châu nhân chủng rối
bời,
Tử sanh định kiếp do Trời,
Cứu-Nguy
Bồ-Tát phát lời nguyện xưa.
Dầu quả kiếp đã thừa số
định,
Quyết ăn năn cải chính sai lầm,
Ðại-bi vô lượng đức thâm,
Pháp-thuyền
độ vớt khỏi lâm nạn cùng.
Họa thế chiến hải hùng con
biết,
Quả đất tròn nạn diệt tránh
đâu,
Vòng quanh nội địa quả cầu,
Tranh
hùng thủ bá gieo sầu nạn dân.
Nghiệp chung ở dương trần nặng
quả,
Tội loài người chất đã bằng
non,
Lòng Trời mấy đoạn thon-von,
Khai
minh ÐẠI-ÐẠO cứu con mạt đời.
PHẬT xót thương vào
đời hóa kiếp,
Dụng Ðạo mầu giải nghiệp mê
lầm,
Ðạo là một món phương châm,
Chỉ
đường chánh đại mà tầm phước lai.
Biết sự thật CAO-ÐÀI cứu
thế,
Nguyện nhứt tâm vào thệ tu
cầu,
Hai ngàn tới chẳng bao lâu,
Long-Hoa
mãn cuộc họa sầu phải lo.
Cuộc phân tranh như lò lửa
diệt,
Ngún dần dần chờ tiết gió
hè,
Thấy đời mạt hậu chỉnh ghê,
Cầu
THẦY nhỏ phước chở che con hiền.
Con lãnh lịnh bát-truyền độ
thế,
Cầu QUAN-ÂM trợ tế nguy
nàn,
Từ-bi thả chiếc linh-thoàn,
Ðộ
dân vô tội sống an hằng ngày.
Lòng con nguyện thảo ngay gìn dạ,
Tập tánh lành hỷ-xả từ-bi,
Ăn chay niệm Phật tu trì,
Khẩn
cầu bá tánh được y như nguyền.
Ðồng hưởng phước ân Thiên
an lạc,
Ðồng ăn năn cải ác tùng lương,
Mong nhờ giọt nước cành dương,
Rưới
thành mưa phép họa ương tiêu trừ.
Cõi hồng trần phước như đông-hải,
Thảy một lòng kỉnh lạy QUAN-ÂM,
Cam-lồ hoán chuyển nhân tâm,
Giải
trừ tai họa tối thâm hiểm nghèo.
Phận con trẻ bọt bèo sống gởi,
Kiếp trăm năm còn đợi lập
tu,
Kỳ cùng nương bước Ðạo mầu,
Mở
đường chánh đại vẹt mù phá mê.
Cầu CHÍ-TÔN trọn thề ân
xá,
Thương con lành phóng xả nghiệp
khiên,
Chúng con thề giữ trọn nguyền,
Cải
tà qui chánh chèo thuyền độ nhân.
Cầu DI-LẶC xuống trần độ
thế,
Chuyển họa di, phước để trường
tồn,
Nam-mô DI-LẶC Thiên-Tôn,
Ðương
lai hạ thế pháp-môn khai truyền.
Cầu Ðại-Hạnh PHỔ-HIỀN Bồ-Tát,
Ðộ nhân loài chuyển đạt thần-thông,
Ðộ an thế chúng đại-đồng,
Thức
căn, thức trí, thức lòng giục tu.
Nam-mô
Tiêu-Tai Diên-Thọ DƯỢC-SƯ,
Lưu Ly Quang Vương Phật
thiện từ,
Ðộ tiêu tai ách giải trừ,
Ðệ
tam thế-chiến từ từ giảm tha.
Chữ Ðạo gốc chủ hòa cuộc
thế,
Lập thái-bình nguơn hệ dựng
mau,
Khắp miền đạo-hạnh giồi
trau,
Nhân-Hiền
Ðức-Thánh ra vào tự do.
Ðầu cúi lạy chung lo cầu đảo,
Ðệ khải trình Tam-Giáo đặng
hòa,
Linh-Tiêu Ðiện có TRỜI
CHA,
Bình-Linh
thượng hội Long-Hoa chứng cùng.
Cầu Chư PHẬT rộng lòng
hạ thế,
Chư THÁNH TIÊN xuống để
lập đời,
Linh-Căn kịp hóa hình người,
Thượng-Nguơn
dựng lại cảnh đời Thuấn Nghiêu.
Cầu THƯỢNG-PHỤ giáo điều
tế độ,
Lập Nguơn cùng bảo hộ đàn
con,
Ðừng cho họa diệt hao mòn,
Chúng
con lập nguyện xin tròn tu thân.
Ngày sáu khắc cho Thần bảo hộ,
Ðêm năm canh họa khổ chớ gần,
Tới lui cuộc sống dương trần,
Họa
tai chẳng vướng nguơn-thần đặng an.
Cầu sau đặng sinh đàn hậu nối,
Thượng Linh-Căn sớm tối kề
gần,
Thấy người đạo-đức thiện
nhân,
Thai
bào tạm mượn cõi trần đến nơi.
Ðể lập dựng cuộc đời Thánh-Ðức,
Nhân trí cùng nhân thức, Thánh
Hiền,
Có người, có Phật, có Tiên,
Có
Thần, có Thánh, có Hiền lập nên.
Con nguyện tu giữ nền hậu
đức,
Cầu đương lai các bực Linh-Căn,
Ra đời gương mẫu Ðạo hằng,
Thông
minh huệ giác hóa hoằng khai dương.
Cầu cõi thế noi đường Ðạo
chánh,
Cầu Trời ban Ðức Thánh Nhân
Hiền,
Cầu xin quốc thái dân yên,
Mưa
hòa gió thuận ân Thiên gội nhuần.
Cầu nước Việt phục hưng Ðạo-quốc,
Ngàn muôn năm không thất chánh-truyền,
Minh-quân, lương-tể toại nguyền,
Dân
an, quốc thái bửu truyền đại ân.
Ngàn muôn kiếp phong vân một
hội,
Cầu ân ban xá tội dương trần,
Chúng con sám hối ân cần,
Xét
mình tội trạng muôn phần thảm thương.
Cầu xá tội quày đường theo
Ðạo,
Bồi chút công tu tạo phước
duyên,
Học noi Kinh Pháp chánh-truyền,
Tâm
mê tánh muội bỗng nhiên sáng lần.
Cầu Bồ-Tát oai thần tế
độ,
Cầu QUAN-ÂM cứu khổ tầm
thinh,
Mười hai câu nguyện tất tình,
Phò
nguy tế khổ, tử sanh phổ đồng.
(- Kính bạch Phật! Lạy
nhờ ơn Phật dạy chúng con được
biết rơ việc tụng Kinh Tam-Bảo, chúng con dùng
Kinh thích nôm chữ Việt-ngữ tụng có
được tốt cho sự cầu nguyện hay không?)
- Bạch Diệu Hoa, hăy nghe thật rơ ràng để
khỏi phân vân nhiều lẽ. Mỗi khi có lịnh
dạy niệm Kinh th́ lẽ tất nhiên phải
niệm ngay Kinh chánh tự, v́ lẽ niệm Kinh tŕ Chú
sẽ có sự linh mầu nơi Kinh Chú vô lượng,
dầu các bậc tụng niệm có thông suốt
được chánh nghĩa hay không vẫn không quan
trọng v́ Kinh Chú là từ đời vô thỉ do
Phật có sức thần thông quảng đại, trí
huệ viên minh từ ở trong đại định
mà quán chuyển phát minh ra Kinh pháp rất thậm thâm
vô thượng, huyền diệu linh mầu. Kinh Chú có
quyền lực chuyển đạt thần thông bao quát,
quán triệt các cơi Phật, Tiên, Thánh, Thần và nhân
vật, chuyển đạt đến cơi U-Minh.
Từ chánh ngôn của Phật trước ở
Phạn-quốc, sau truyền thông sang Trung-Hoa tuy có
phần sai lệch v́ ngôn ngữ chút ít nhưng không
đáng ngại. Nếu khi nôm nghĩa qua ngôn ngữ
Việt, văn thơ ḥa vận th́ chỉ c̣n có cái
lư, tức nôm na giảng lư Kinh pháp để cho
giới b́nh học Việt-ngữ thông suốt
được cái lư Kinh hầu tu học mà thôi.
Ngoài ra khi cầu tụng phải dùng Kinh Hán-tự,
Nho-tông Phật học mà tŕ tụng th́ mới đạt
đặng quyền lực linh mầu của Kinh pháp
vậy.
Thứ hai, muốn niệm Kinh phải tŕ Chú,
tụng niệm phải đủ nghi thức Kinh Chú
th́ mới đặng hưởng phước nơi
Kinh Chú. Vậy Hiền-Nữ đă thông?
(- Kính bạch Phật, vậy Kinh Phổ-Môn
kỳ Cầu An nay chúng con tụng nghi thức như
thế nào? Xin ơn Phật chỉ giáo.)
- Nầy nghi thức Lễ Cầu An:
1)
Bài Kinh Niệm Hương (Hoàng Thiên…)
2)
Bài Kinh Sám Hối Cầu An
3)
Kinh Phổ-Môn Phẩm:
Nghi
thức Phổ-Môn Cầu An:
a)
Bài Niệm Hương (Lư hương
xạ nhiệt, pháp giới…)
b)
Bài Nguyện Chuông (không phải bài cúng
hương)
c)
Chú Tịnh Khẩu Nghiệp
d)
Tịnh Thân Nghiệp
e)
Tịnh Tam Nghiệp
f)
Án Thổ Địa Chơn Ngôn
(mỗi bài một bận, một lạy)
g)
Hộ Pháp Chú
h)
Khai Kinh (Chánh văn, Hán văn) (Vô thượng
thậm thâm…)
i)
Diệu-Pháp Liên-Hoa, Phổ-Môn
Phẩm (phải tụng cho đủ tới hết bài
Cử-Tán, tụng tiếp qua Cứu-Khổ Chơn-Kinh
3 bận)
4)
Cứu-Khổ Chơn-Kinh 3 bận
(Lạy)
(Xong
Lễ)
(- Kính bạch Phật! Như
lễ Cầu An sắp tới dùng Kinh chánh văn và
tất cả từ nay sắp tới nếu toàn
tất Kinh Tam-Bảo tụng cầu siêu độ cũng
không nên tụng Kinh thích nôm?)
- Phải đó.
(- Kính bạch Phật! Như
thuở nay v́ chúng con tỵ nạn đi tới
hải ngoại Hoa Kỳ đây v́ thiếu Kinh sách,
phải tạm dùng Kinh thích nôm, như vậy khi
tụng cầu siêu độ có được phước
cho chư vong linh siêu thoát hay không?)
- Bạch Diệu Hoa! Lời ngươi bạch
hỏi ḷng Thiện-Nữ lành thay! Ta rất khen
ngợi, Ta vừa sắp nói đó. Sự cầu
độ chư chúng có được phước
đức văng sanh Tịnh-Độ hay không thiệt
là do nơi ḷng thành tín của chủ tâm và ḷng
cầu độ tinh tấn của Sư và tăng
đồ cả thảy. Đúng theo nguyên luật
Phật-Đạo, dầu niệm trại một
tiếng Kinh c̣n phải bổ khuyết, huống chi
thiếu sót sai lỗi v́ dịch giải. Nguyên v́
đạo luật ân xá, sở vô phương
tiện, dùng luật hoan hỷ chỉ thời gian
đó. Nay đă chuyển đạt nghi thức đầy
đủ, nếu c̣n cượng lẽ tŕ tụng
sai thiếu th́ lỗi ấy khó chế giảm.
Thiện-Nữ đă hiểu thông?
(- Kính bạch Phật, con
đă rơ, kính lạy cảm ơn Phật! Sau con xin
bạch Phật, ư con muốn cầu bạch Phật
việc Kinh tụng cần tụng Kinh chánh văn
đó là chỉ cho Thiên Lư Bửu Ṭa thôi hoặc cho
Cao-Đài Đại-Đạo thôi hay là toàn tất
ở cả Phật-giáo cũng cần phải
tụng như vậy hết?)
- Lành thay! Lành thay! Tất cả đồng
phải tụng niệm như vậy hết mới
phải. Nhưng tất cả phần Kinh Kệ cũng
rất cần dịch Nôm, đó là độ cho toàn
tất giới b́nh dân xem mà đạt ngộ, đạt
lư được th́ tâm mới tỏ ngộ Đạo
vô thượng. Nhưng tụng niệm th́ phải
cầu nơi diệu pháp là phải dùng chánh văn
cho khỏi sai nghĩa.
(- Kính bạch Phật!
Thoảng như tất cả Kinh pháp hiện tại nơi
Cao-Đài Đại-Đạo từ 60 niên vừa
qua đến nay toàn tất là Kinh tiếng
Việt-ngữ, ngay tới quyển ĐẠI-GIÁC và
quyển DIỆU-MINH BẢO-PHÁP nầy cũng vậy
th́ việc niệm cầu thế nào? Có linh mầu
hay cũng không tốt?)
- Này Bạch Diệu Hoa! Hăy nghe rơ mà chép ghi
lời Ta giảng giáo nghiêm huấn nơi liên-đài:
1) Từ thuở Phật Thế-Tôn thuyết pháp
giảng Kinh nhằm ở thế hệ vương tôn,
giới triết học, sau truyền giáo sang Trung Hoa
nhằm thế hệ tể tướng, bực
học giả. Đến ngày nay thế hệ
nhằm b́nh dân, mà Quốc-Đạo nhằm ở
Việt-Nam th́ tất cả Kinh điển đồng
nhứt phải thông dùng bằng Việt-ngữ
tức chánh tự của ngôn ngữ đó, sự
linh mầu nào kém chi Kinh điển ở Thiên-Trúc
thuở Phật ra đời, chỉ khác hơn là khác
thời nhiệm, thể thức khai giáo và truyền
giáo, sở dĩ tại thời gian, sở dĩ tâm
mộ, tŕnh độ đều khác biệt, cơ
Đạo thường chuyển hóa song song với cơ
thế.
2) ĐẠI-GIÁC THÁNH-KINH là một
quyển Kinh đă tập trung hết thảy Tam Giáo và
thuyết giảng rất b́nh đẳng, ấy là
chủ thuyết cho thời khóa tận độ
hiện tại rất phù hợp vô cùng. Nếu
giữa thời nhiệm Đạo hóa tận độ
này mà Kinh điển c̣n sâu xa nghĩa lư th́ không
phải tận độ. Hoặc có những bực
học thức, bực Đạo-sư, bực Nho
học xem mà khinh chê ấy là tùy hỷ nơi tánh
đó chấp, v́ các bực nói trên phải xét
thấy các hạng hữu học ở giới b́nh dân
rất cần những Kinh điển được
phù hợp với tŕnh độ để tu học
của cả thảy.
3) Qua đời vị lai càng thấy Kinh điển
ngày nay sẽ cao quư vô tận. Kể từ
hiện tại, tương lai, nếu có những
bực lợi căn tu học th́ sẵn phương
tiện đầy đủ, do từ bực thang mà
lần lên, rừng Kinh, biển Pháp, căn trí nào có
Kinh điển đó, giúp đường tu tiến
không có chỗ cùng tột. Nếu được
tiến học càng cao, ví như người đang
đứng trên lâu đài đỉnh cao, không nên v́
trên đỉnh cao mà khinh chê người c̣n đang
trèo ở bực thang dưới thấp. Không trèo
thấp lấy ǵ lên tới chỗ cao, hễ không
thấp, tức không có cao vậy. Th́ từ chỗ
thấp mới sanh cao, từ chỗ cao kiến mới
d́u dẫn đỡ nâng, “Ngă đẳng dữ chúng-sanh,
giai cọng thành Phật Đạo”.
Ta đặng ở trên đỉnh lâu đài cao
đẹp sung sướng, ta phải kêu gọi d́u
đỡ cho kẻ c̣n ở nơi bùn lầy. Ta
phải bước tận xuống chỗ ẩm
thấp bùn lầy để đỡ nâng cho người
cùng trèo lên mà hưởng chỗ thanh nhàn mới
gọi là độ.
Ta thuyết giảng Đạo-lư văn từ không
mắc nghĩa, dùng ngôn ngữ thông thường, Kinh
điển chuyển hóa theo thời đại. Đấng
CHÍ-TÔN không phải kém quyền năng, chư
Phật, Thánh, Tiên thần thông có đủ nhưng
phải hạ xuống cấp thang hầu d́u độ.
Các bực căn trí cứ thoảng nhiên tu học
theo tŕnh độ và nên khuyến học cho giới
đồ chúng b́nh dân được tu tiến
mới là đúng bực hoan hỷ tha độ.
(- Kính bạch Phật! Nay
c̣n một việc rất trọng đại mà con chưa
được thông đạt, nay con xin cầu ơn
Phật v́ con và tất cả mà thuyết minh lẽ
nầy để con cùng tất cả được
hiểu biết. Kính bạch Phật! Trước
Phật có giảng độ cho biết rằng măn
Hội LONG-HOA th́ lịnh đại ân xá cùng bế
hẳn. Nếu lịnh đại ân xá đă bế,
măn hạn kỳ th́ Bát Vạn Thiên Môn đều
bế tắc, các bực Linh Căn không vào nhập
thế nữa th́ ma quân mới hết hạn hồi
dương vào mượn thai bào lẫn lộn
với người mà bày cơ diệt thế.
Vậy trong bài “Sám Hối Cầu An” Phật đă
chỉ giáo cho toàn tất chúng-sanh đọc niệm
lại có các khoản cầu xin cho các bực Linh Căn
nhập thế trong tương lai từ nay về sau
để trở nên Nhân Hiền Đức Thánh
ở ngày tương lai mới dựng lập đặng
thái b́nh cho nguơn hệ Thánh Đức sau nầy là
thế nào?)
- Bạch Diệu Hoa! Lành thay! Thiện nữ nhân
thiệt đại lành đó! Ta sẽ thuyết minh
tới chỗ rốt ráo mà độ cho toàn tất
đại thế chúng từ hiện tại, tương
lai, đến các thế kiếp qua đời vị
lai đều rơ biết. Đây hăy chép ghi tỏ rơ:
Hễ sắc chỉ NGỌC-HOÀNG ấn phê lịnh
đại ân xá th́ toàn tất vạn linh đồng
đẳng được thi hành luật đại
ân xá đó, bất cứ Phật, Tiên, Thánh,
Thần, người, quỷ, ma, vật, cầm thú
đồng có luật tất hết. Khi lịnh
bế, chỉ c̣n luật khẩn cầu với
sự thành tâm nhất mộ th́ mới được
ân ban cho mà thôi, th́ nơi ḷng kẻ thiện nhân
chỉ cầu khẩn xin Linh-Căn quư tử vào
nối nghiệp tông môn, chớ có ai dám nguyện
cầu cho loài quỷ yêu nhập vào gia tộc??? V́
lẽ ấy mới lần lượt chấm dứt
bọn ma đạo không được nhập
thế khuấy nhiễu chúng-sanh.
(- Nam mô A Di Đà
Phật, con xin lạy Phật tạ ơn! Kính
bạch Phật! Vậy từ nay về sau bài “Sám
Hối Cầu An” nầy sẽ được tŕ
tụng luôn luôn phải không?)
- Phải đó! Phải đó! ĐẠI-GIÁC
THÁNH-KINH dùng để tu học sánh như cơm
ăn thường bữa; DIỆU-MINH BẢO-PHÁP CHƠN-KINH
là liều thuốc
hồi sinh, cứu chữa bịnh ngặt nghèo đang
cơn hấp hối được phục b́nh lành
mạnh đó.
Đại Lễ khởi hành Cầu An tức là
một mẫu mực cho đại thế chúng về
sau cứ hằng năm vào Rằm tháng 10 là phải
tổ chức Lễ Cầu An chung đều chi
hết thảy, và hằng ngày, hằng tháng kể
từ sau ngày Đại Lễ sắp tới, nơi
chùa thất am tự mỗi ngày được
thọ tŕ một bận th́ phước đáo
chẳng sai.
(- Kính bạch Phật!
Lời Phật giảng giáo rất rơ ràng, nhưng con
v́ trí hẹp xin ơn Phật giảng độ để
con và tất cả được hiểu tường
tận hơn rằng: chỉ trong các chùa thất
về nội phần tôn giáo Cao-Đài thôi hay tất
cả các tôn giáo cùng thọ tŕ hết?)
- Bạch Diệu Hoa! Nghe Ta nầy: Ta muốn
hỏi Thiện-Nữ-Nhân, Kinh điển của Ta
giảng độ có tánh cách riêng hay tánh cách chung?
(- Kính bạch Phật!
Kinh điển của Phật giảng độ là tánh
cách chung, nhưng con chỉ e các tổ chức tôn giáo
nếu người ta nghĩ có riêng nên con đă phát
xuất câu hỏi rất hạn hẹp, rất có
lỗi lầm, cầu lạy ơn Phật xin hoan
hỷ!)
- Mô Phật! Ta rất hoan hỷ, nhưng phải
biết nếu các tổ chức Phật sự, hành
thiện vẫn c̣n chấp không thi hành, chỗ nơi
nào thi hành th́ chỗ đó được ân phúc,
chỗ nào không chấp nhận, cứ tùy hỷ nơi
dung tâm, Ta chỉ giảng Kinh mà Ta không buộc
luật.
Ngay đến tha tâm của đại thế chúng
cũng thế, Kinh điển là cái phương
tiện, nếu biết dùng cái phương tiện
hữu ích để tu học tiến đến
quả vị, hoặc cầu phước, mà chúng-sanh
th́ vô số căn, vô số nghiệp, tuy sắc tướng
có đồng, nhưng căn trí chẳng đồng,
nghiệp duyên đều khác, lợi độn khác
hẳn, thiện ác khác biệt. Dầu nay Ta không nài
nhọc nhằn đến giảng Kinh thuyết Pháp nơi
đây, Ta vẫn thừa biết cũng chỉ độ
được kẻ có căn duyên thôi, ngoài ra, người
c̣n thiếu duyên không thể độ được.
Như vậy tức là giải cứu chỉ
được cái họa chung tức là cái quả
nghiệp chung của chúng-sanh thôi, ngoại trừ
nghiệp riêng của cá chúng thế nào giải
cứu được!
(- Kính bạch Phật!
Thế nào mới được gọi là nghiệp
chung? Thế nào mới gọi là nghiệp riêng?)
- Mô Phật hoan hỷ! NGHIỆP CHUNG tức
là: nếu đa số người thiện đức
nghe thấy Kinh điển của Ta thuyết minh đạo-lư,
chỉ phương pháp tu cầu, đồng phát tâm
tỏ ngộ chánh kiến, chánh tín trực giác
hồi minh, chịu tin nghe mà lập tâm hạnh tinh
tiến sám hối ăn năn cầu độ,
luyện tu tâm tánh, tức th́ sẽ có quyền
lực của Bề-Trên che chở cứu vớt
hiểm họa cho xứ sở làng nước ở
chốn đó, bất phân kẻ thiện ác đồng
được sự ân phước chung mà thoát
khỏi cái họa chung phần đó. Ngoài ra, nếu
riêng phần cá chúng không ḷng thiện đức,
hằng chất chứa nghiệp nhân quả, tham, sân,
si, sở sanh nhiều thất đức th́ quả
ấy phải riêng chịu, tức NGHIỆP RIÊNG
vậy.
Kể từ Kinh Điển được khai
xuất th́ hậu phước đáo sanh vào cơi Ta-Bà
như trời mưa rưới nước Cam-Lồ
Tịnh-Thủy, cứu cánh họa diệt cho đại
thế chúng, được dùng Kinh Điển
nầy làm phương châm mà tu cầu thoát khỏi
đại họa.
Trong ngày Đại Lễ, v́ cuộc Đại
Lễ Cầu An cho toàn cơi thế giới, tức khai
dương Đạo-pháp hoằng hóa Cơ Tận
Độ Ngũ Châu, phát hành Kinh DIỆU-MINH
BẢO-PHÁP, tức bố thí cái pháp môn vô lượng
vào đại thế chúng, mở mang Cơ Tận
Độ để cho toàn tất chư thiện-nam tín-nữ
đọc xem tự giác, tự ngộ và tự độ
lấy hồn xác chính ḿnh th́ mới mong cứu cánh
kịp với thời kỳ tận diệt mạt
hậu phân tranh hầu rấp nhập.
Ngày Đại Lễ có tánh cách nêu gương,
trực tiếp nhắc nhở cho toàn tất các
tổ chức tôn giáo do người Việt-Nam
Quốc-Đạo thức tâm, thức trí cứ do
vấn lẻ đó mà truyền bá lẫn nhau tu
cầu lập nguyện sám hối ăn năn, chí tâm
quy mạng đảo cầu tinh tấn giải
họa chung cho thế giới trong tương lai đă
kề gần vậy.
(- Kính bạch Phật!
Kể từ sau ngày thiết lập Đại Lễ
Cầu An th́ tất cả các chùa am, thánh-thất
mỗi ngày cần thọ tŕ Sám Hối Cầu An và
Cứu Khổ Chơn Kinh đồng đều
được một bận th́ nhờ phước
chung mà khỏi họa lớn?)
- Phải đó, phải đó, không những chùa
am, mà tại tư gia của thiện-nam tín-nữ
đă có tâm mộ th́ vọng hương án mà
thọ tŕ càng tốt, được vậy mới
gọi là tu cầu thành tâm, phước lai, họa
viễn. Các thiện-nam-tử, thiện-nữ-nhân có
tâm thành cầu mộ tŕ tụng thường hoài th́
được hạ sanh Quư-Tử. Tụng
niệm phải thành tâm, ḷng tưởng việc lành,
ăn chay bố thí, in Kinh tha độ th́ hậu phước
vững bền không sai.
Vậy nay Chơn-Kinh sắp hoàn thiện,
Hiền-Nữ cần bạch điều chi chăng?
Ta sẽ hoan hỷ giảng độ v́ sắp
tới giờ hoàn bế.
(- Kính bạch Phật! Con
không biết bảo tựa Kinh phải thành lập tŕnh
bày như thế nào, mười hai chữ đề
ngay một hàng hay phân chia thành ba hàng?)
- Bảo tựa không phải mười hai
chữ ngay một hàng, bốn chữ “THƯỢNG-NGUƠN
THÁNH-ĐỨC” phải đề ở trên đầu
trang bằng chữ in hoa nhỏ riêng ở mỗi trang
Kinh đều chi hết thảy. Hiền-Nữ đă
hiểu?
(- Bạch hiểu.)
- B́a Kinh chỉ đề tựa có bốn
chữ lớn tức “BẢO-PHÁP
CHƠN-KINH” đó là tựa chánh phải
đề tắt.
Vào tới bài Khai Kinh mới nêu ở trên đủ
tám chữ là:
“DIỆU-MINH
BẢO-PHÁP DI-LẶC CHƠN-KINH”
và
khi khởi đầu các đệ th́ đều
phải nêu như vậy cả, và khi dứt các đệ
th́ câu niệm: Nam
Mô Long Hoa Hội-Thượng Phật Bồ-Tát Ma-Ha-Tát.
V́
thời gian quá hạn hẹp, Thiện-Nữ phải
cần nghỉ ngơi dưỡng thần để có
phận hành vào ngày Lễ tới. Thuyết giáo
tới đây cũng đă được viên măn
bộ Kinh, dầu không được phong túc v́
sự khó khăn thiếu chỗ thanh tịnh, nhưng
Ta cũng niệm niệm khi Kinh Pháp chào đời
được ḥa dung chí thiện.
Kẻ
Linh-Căn ưa cầu mộ,
Người
thiện-đức gắng học noi,
Hữu
duyên khả truy tầm vào Chánh-pháp,
Hiền
đức mau tha độ chúng nơi biển khổ
trần,
Căn
trí giác cứ lần lần tu tiến bước,
Người
mộ Đạo hăy tŕ trai ǵn hậu phước,
Diệt
tham sân là trước hết hỡi tăng đồ,
Cơi
thế trần muốn sạch bợn giảm mưu mô,
Giới
sát cùng tŕ trai đặng ắt là thong thả,
Kẻ
hiếu đạo th́ cầu mong chứng quả,
Niệm
niệm cầu tứ chúng sớm tỉnh mê,
Tu
sao cho Đạo quả chứng Bồ-Đề,
Ĺa
ĺa dứt cái tâm chung bản ngă,
Dứt
mê đồ th́ đạo quả tự phát sanh,
Bỏ
dữ rồi tự thấy có tánh lành,
Lọc
trược bẩn th́ cao thanh liền ở đó.
Muốn
học Đạo ngàn muôn Kinh đều sẵn có,
Niệm
Phật cầu th́ tâm nọ phải ngay lành,
Chớ
cượng ḷng nghi ngại ư chẳng thành,
Tâm
trung chẳng biến sanh,
Th́
tánh Phật đại lành sẽ độ tiêu
nghiệp chướng.
Thường
niệm Phật ḷng năng mộ tưởng,
Phật
nguyện rằng sẽ tận độ cơi chúng-sanh,
Nghe
Kinh mau cải dữ hối về lành,
Phát
Đại-Nguyện sẽ tu hành tṛn đắt Đạo.
- Nam-mô A-Di-Đà Phật.
- Nam-mô Long-Hoa Hội-Thượng Phật
Bồ-Tát Ma-Ha-Tát.
- Nam-mô Huyền-Khung-Cao Thượng-Đế
Ngọc-Hoàng Đại-Thiên-Tôn.
Thăng…
HẾT
Nam
Mô Long Hoa Hội Thượng Phật Bồ-Tát Ma-Ha-Tát.