Thi:
Rồng
ẩn trong mây lố dạng hình,
Màn
trời nhặt bóng cánh bình minh,
Kiếp
tằm lẩn quẩn chun trong kén,
Trả
nợ tình dâu nhộng hóa hình.
Thi:
Hộ-Pháp
thọ truyền lịnh CHÍ-TÔN,
Giáo-Chủ
Tam-Kỳ độ phái môn,
Qui
cơ Ðại-Ðạo mười hai đủ,
Hiệp
tác huờn nguyên mối đại-đồng.
Thi
bài:
Thầy nương bút tỏ lời kim
thạch,
Dạy môn sinh hắc bạch phân
minh,
Từ xưa mối Ðạo Tây-Ninh,
Do
Thầy khai mở dựng đền lập ngôi.
Thầy chấn chỉnh qui hồi lập vị,
Dân của Thầy yêu quí đủ phần,
Hương thôn thành lập chia phân,
Phận
nào sự nấy an phần lo tu.
Ngày hiện diện công phu thiết
lập,
Ðã thông tường ngăn nắp
Thiên-Cơ,
Cuộc đời chi khác cuộc cờ,
Mấy
lời di chúc bây giờ mới kinh!
Ðời mạt hậu khi thành lúc
bại,
Hư mà thành, nên dại mà hư,
Cỏ non ba tấc khó trừ,
Rừng
xanh, cổ thọ tàn hư mấy hồi.
Thân hoa dại thiệt thòi thưa
thớt,
Hương chẳng thơm nhụy lợt kém
màu,
Ðời hoa an tại bền lâu,
Tham
chi cao vọng héo sầu nay mai.
Hỡi các con nghe Thầy chỉ giáo:
Phận lo tròn ngay thảo hiếu
trung,
Nghĩa nhân lễ giáo khuất tùng,
Làm
dân trong nước phải trung mới thành.
Nay Thiên định
phụng hành khắp cõi,
Ðạo qui nguyên mới
gọi Ðạo thành,
Cơ Thiên sắc chỉ
đành rành,
Truyền
thông qui hiệp lập thành lý chơn.
Ðời mạt hậu Ðạo huờn nhứt
mạch,
Ðừng rẽ chia phân tách phái
chi,
Thầy khuyên hết Ðạo vâng Thầy,
Chí-Tôn
phán lịnh ngày nầy vẹn nguyên.
Cho hiệp lý Tiên-Thiên lập Ðạo,
Mới vuông tròn thiện bảo bền
lâu,
Qui là để bắt nhịp cầu,
Hiệp
hòa nhứt lực Á Âu thuận đường.
Nay các con đã tường lời dạy,
Thuận lẽ Trời xin hãy khắc
in,
Xưa dầu vạn trạng muôn hình,
Bây
giờ là buổi góp thành một khuôn.
Qui nhứt hiệp là đường chơn
lý,
Từ Ðạo khai Giáp-Tý đã phân,
Chí-Tôn sắp sẵn có phần,
Cho
kỳ hiệp tác kề gần Hạ-Nguơn.
Lời Thiên-Cơ chẳng sờn nét
mực,
Còn khắc tâm các bực vĩ nhân,
Các con đã thấy cuộc trần,
Vần
xây đảo lộn thần dân khổ nàn.
Thầy thuở xưa lời vàng đã
dạy,
Một vài điều thời đại Thiên-cơ,
Song Thầy há dám hững hờ,
Thiên-Cơ
bất khả thờ ơ lộ bày.
Thầy buồn bã cho ngày mạt hậu,
Cuộc cờ tàn tứ ngẫu sắp
khuôn,
Dạn dày mày mặt mấy tuồng,
Cuộc
đời ví tợ hát tuồng chi hơn.
Thương kẻ dữ nhiều cơn xót
dạ,
Thương dân lành buồn bã lòng
Thầy,
Con ơi! Nương náu qua ngày,
Thời
kỳ khổ nạn vắn dài cam tâm.
Các con gắng học tầm tu sửa,
Tu tâm tròn chớ thửa sắc màu,
Chớ nên lơi lãng Ðạo mầu,
Có
khi khổ nhọc mới hầu Ðạo cao.
Cơn sóng bổ dạt dào mây nước,
Chớ để lòng lần lượt lơi
tâm,
Trai kỳ thập giới tròn công,
Dầu
cho mai một thong dong cõi hồn.
Lẽ còn mất sinh tồn duy vật,
Cõi hồng trần sinh ký tử
qui,
Mảnh thân xương thịt màng chi,
Linh
hồn vĩnh lạc hồi qui cõi lành.
Thân cát bụi dữ lành một
kiếp,
Giờ khắc qua quả nghiệp còn
vương,
Người lành vui thú Thiên-Ðường,
Thương
thay kẻ dữ phải vương ngục hình.
Hồn đày đọa hành hình thê
thảm,
Chốn Diêm-Ðình mãn hạn trừng
răn,
Cho hồi dương thế đọa trần,
Thú
cầm đội lốt muôn phần đắng cay.
Dầu cơ cuộc có Thầy bảo hộ,
Thầy sẽ không bỏ dở đoàn
con,
Máy Trời phải chịu thon von,
Sóng
dồi gió dập bòn hòn thảm thê.
Nay cơ Ðạo qui về một mối,
Thầy vui thay cơ hội rồng mây,
Long-Hoa hội diện có Thầy,
Thời
giờ thiên tải lập ngày Thuấn Nghiêu.
Ðức Chí-Tôn dắt dìu cõi
thế,
Ðời thậm uy Thượng-Ðế
xuống trần,
Qui nguyên mối Ðạo an phần,
Ngũ
Chi, Tam Giáo tình thân lập nguyền.
Các con nên kiền thiền nhứt
dạ,
Phải tự lòng chinh ngã phục
thân,
Tu cho vẹn đạo nhân luân,
Trai
câu nhân nghĩa, gái phần nết na.
Mười điều cấm khuyên đà từ
thuở,
Người lạc xa không giữ
được nào,
Ðạo thời chen lấn xôn xao,
Bề
ngoài danh nghĩa tâm bào thì không.
Ðời trụy lạc Ðạo không giữ
hạnh,
Người thiếu tu nên cảnh diệt
vong,
Không tu tâm tánh cho đồng,
Tham
gian, hung bạo mà không sửa lòng.
Trai lung lăng, gái không gìn nết,
Thói lăng quằng hầu hết sửa
tâm,
Sa đường tửu nhục tà dâm,
Làm
cho đạo đức ố thâm thói đời.
Người phải tu thì Trời mới
giúp,
Tự cõi lòng lánh đục tìm
trong,
Giữ nền lễ giáo gia phong,
Cho
đời lạc nghiệp cho lòng yên vui.
Các con nay mỗi người tự nhủ,
Tự trau mình gương mẫu soi
nhau,
Tròn tu nhân đạo một màu,
Thiên-Ðàng
tại thế hưởng câu thái bình.
Biết vì đâu Thiên-Ðình xử
phạt,
Tại cõi đời lầm lạc không
tu,
Mãi câu tranh thủ sang giàu,
Mạnh
toan hiếp yếu mưu cầu vinh hoa.
Lòng không thiện lân la đổ
bác,
Mối gian tà dâm ác dẫy đầy,
Làm cho nghiêng ngửa Ðạo Trời,
Cho
mang tai tiếng cho đời diệt vong.
Ngày nay tua răn lòng tự hối,
Tu cho đời gỡ rối ngày mai,
Tứ tường đổ bác lụy
đời,
Ngày
nay cảnh khổ kêu Trời khóc than.
Tu là tránh con đàng lầm lỗi,
Tu là trau giềng mối đạo người,
Người tu phải giữ vẹn mười,
Ðừng
nên quấy tưởng cúng thời là tu.
Ðừng nghĩ sái đi Chùa là Ðạo,
Không phải cầu sớ Ðạo là
xong,
Tưởng đâu chay lạt đủ dùng,
Mà
tâm gian dối thủy chung ích gì?
Tu phải giữ điều qui tâm tánh,
Thập trai gìn đạo hạnh làu làu,
Ðạo nhân xử nghĩa làm đầu,
Tam
Cương, Ngũ Lý là câu tu hành.
Tu phải vẹn phải gìn cho đúng,
Nhân đạo là ứng dụng Ðạo
Thiên,
Nhân tròn: Thiên-Ðạo về
nguyên,
Chữ
NHƠN lại với chữ THIÊN khác gì?
Thêm hai ngang biết thì Trời Ðất,
Biết được rồi quả thật Âm
Dương,
Nhân tròn là thuận con đường,
Âm
Dương biết hiệp Thiên-Ðường nào sai.
Người và Trời tuy hai xa biệt,
Thuộc đường đi quả quyết
thật gần,
Ngày giờ mối Ðạo kết thân,
Ðức
tài dấn bước lên đường Ðạo cao.
Bực Ðại-Thừa là cầu thoát
khổ,
Mở mối đường giai ngẫu thiên
thu,
Âm Dương thiên thọ bền lâu,
Âm
Dương thế tục là câu luân hồi.
Biết đường Ðạo phục hồi
cảnh báu,
Ban cho người huờn đáo cựu
ngôi,
Cảnh Tiên nhô nhố mạn trời,
Tu
cho thoát khổ kịp thời mới âu.
Máy Thiên-Cơ phục hồi Thượng-Cổ,
Thế mà Thầy phổ độ giáo dân,
Tu tâm mới hưởng đặng phần,
Vì
đời trụy lạc thì dân khổ sầu.
Ðời Nghiêu Thuấn vó câu nhàn
hạ,
Nhân vật cùng thong thả hưởng
an,
Nhưng mà Ðạo phải chu toàn,
Trọn
lành trọn phúc thế gian mới thành.
Tu không vẹn tâm lành chưa hãn,
Thì những cơn bão loạn còn vương,
Muốn mau thấy đặng Thiên-Ðường,
Thì
dân quay bước chung đường trọn tu.
Thầy nương bút vẹt mù sương
loãng,
Cho các con ánh sáng vầng hồng,
Kể từ Ðền Thánh tạo xong,
Trải
qua biết mấy thu đông vắn dài.
Kể từ ngày mà Thầy vắng mặt,
Bao niên dài bằn bặt trôi
qua,
Ðời càng vật-chất xa hoa,
Ngày
càng biến động phồn hoa lại càng.
Mượn danh nghĩa tạo đàng vật-chất,
Ðạo bề ngoài tâm thật không
tu,
Công danh, quyền tước, sang giàu,
Bên
cầu nước chảy có đâu vững bền?
Ðạo từ xưa hữu hình hữu
trạng,
Ðạo từ nay mới hẳn vô-vi,
Hành tròn sứ mạng hiệp qui,
Ðạo
vàng mới thấy đường đi vô hình.
Ðường Thiên-Ðạo công bình
Thánh-Ðức,
Mối đường mòn thoát vực
biển trần,
Ðạo Trời chánh pháp luyện
thân,
Tu
tâm dưỡng tánh cho phần vô-vi.
Tu phải biết đường đi thoát
tục,
Tu là cần gạn đục lóng
trong,
Lo tu cho đặng phần hồn,
Thế
gian vật-chất là phồn hoại hư.
Tìm cái không mà từ sẽ có,
Ðặng vững bền muôn thuở nào
sai,
Cái gì hiện tại ngày nay,
Là
đồ hư hoại rõ thì mới không.
Thân vật-chất từ trong thai
noãn,
Cấu tạo bằng xương thịt huyết
hồng,
Hữu hình mạnh mẽ tinh khôn,
Nhưng
mà hữu hoại trường tồn đặng đâu?
Tạo chơn-nhơn phép mầu tu luyện,
Hiệp tinh thần vận chuyển càn
khôn,
Luyện đơn nấu thuốc trường
tồn,
Kim-thân
bất hoại linh hồn muôn thu.
Người phải biết nẻo tu là
trọng,
Tu nơi tâm chẳng vọng bề ngoài,
Ðầu môi chót lưỡi cân đai,
Danh
quyền cao cả bề ngoài trọng khinh.
Ðời dụng danh làm nền cao quý,
Ðạo dụng tâm danh sĩ thiệt bần,
Bần mà có đặng Kim-thân,
Vàng
ròng ngọc quý ngàn cân khó bì!
Người biết Ðạo từ-bi giả
dại,
Không tự cao, tự đại cùng
đời,
Hằng lo tâm tánh trau giồi,
Nhỏ
nhoi mềm mỏng Ðạo thời mới cao!
Ðời dụng chữ sang giàu làm
quý,
Ðạo lo câu thuần túy đức
lành,
Thế gian lấy của làm danh,
Phật
Tiên lấy đức lập thành bản thân.
Ðức vạn niên không mòn chẳng
hết,
Của phù vân tan hiệp mối hồi,
Thân tàn ma dại thấy rồi,
Ngày
qua tháng lụn nhanh thời như bay.
Năm tháng qua giờ ngày chớp
nhoáng,
Một kiếp người hỏi đặng
bao lâu?
Ngựa qua cửa sổ ngang đầu,
Xương
tàn một nấm thiên thu dưới mồ.
Biết đường Ðạo điểm tô
đức tính,
Mới nên người đạo hạnh lý
thông,
Tu lo dìu độ giống giòng,
Biết
câu chánh kỷ mà hòng hóa nhân.
Ðường Thiên-Ðạo chập chờn
trước mặt,
Thương cho người chẳng nhặt
được mà,
Tâm hồn bảy quỷ, sáu ma,
Kéo
trì vịn níu dễ đà buông lơi.
Tu tâm phải rạng ngời trí huệ,
Giải vòng vây diệt quỷ khử
tà,
Ðương lồng giam quỷ, nhốt ma,
Ðược
rồi trí huệ sáng lòa như gương.
Tu hữu-hình là đường
khai mở,
Tu vô-vi mới ở nội tâm,
Tu tâm Ðạo đắc khôn lầm,
Xin
đừng quấy tưởng cao thâm chức quyền.
Quyền chức tước mãn duyên
nhắm mắt,
Hồn không tu quỷ dắt Âm-cung,
Dầu xưa quyền tước, dân cùng,
Ðến
ngày mãn cuộc đi chung một đường.
Tu cũng có nhiều phương giải
thích,
Nhiều hạng tu hầu hết nghe Thầy,
Ðạo nhơn tu sửa cũng đây,
Ðạo
Thần, Ðạo Thánh, Ðạo rày Phật, Tiên.
Cũng gọi Tu chung thiền một chữ,
Một chữ Tu biến đủ chín ngôi,
Sen vàng chín phẩm muốn ngồi,
Ðường
tu chín bực cho đời rõ thông.
Tu nhân đạo răn lòng sửa tánh,
Nhơn-đạo tròn mới đến bực
cao,
Thần-đạo, Thánh-đạo, Tiên-đạo,
Mỗi
đều ba bực thấp cao cho rành.
Thần ba bực Ðạo hành mới
rõ,
Thánh cũng ba chẳng có bằng
nhau,
Tiên cũng ba bực mới mầu,
Ngôi
vàng chín phẩm Ðạo hầu tột cao.
Bực Ðại-Giác làu làu trọn
đủ,
Chứng Kim-Thân Phật thủ ngôi
cao,
Tòa sen chín phẩm đặng ngồi,
Phải
tròn tất cả Phật ngôi hưởng phần.
Chữ đắc Ðạo còn phân chín
bực,
Tùy công tu mà chứng quả lành,
Ngày nay phân giải bạch minh,
Cho
người rõ lý Ðạo lành chính nhơn.
Tu HỮU-HÌNH là phần nền
móng,
Lập thành hình mới dụng VÔ-VI,
Ðạo lần từng bước mà đi,
Ðạo
đời đôi gánh quản gì nhọc thân?
Các con tu rõ phần ÐẠI-GIÁC,
Quyển THÁNH-KINH Thiên tác
hiệp thành,
Lưu truyền khắp cõi nhân sinh,
Cho
kỳ mạt thế Ðạo lành qui cơ.
Cho rõ biết ngày giờ Thiên
định,
Biết mà âu tu chỉnh lấy thân,
Cuộc đời khổ lụy cõi trần,
Biết
lo sám hối thì dân mới bình.
Thầy giải lý tận tình mấy đoạn,
Ðời khá tua rõ cạn đường
chơn,
Mãn giờ phổ giáo nơi trần,
Thầy
quay gót ngọc lui chân cõi nhàn.
Ngâm:
Tiêu diêu thắng cảnh thi nhàn,
Giã
từ nữ đệ dậm ngàn tiêu diêu.