25.- LUẬN VỀ ĐẠO LƯ

Ngọc Minh Đài (Vĩnh Hội – Sài G̣n)

Tuất thời Rằm tháng 11 Đinh Mùi (16-12-1967)

THI:

KIM thân ai luyện được nên rồi,

QUANG đảng chín từng để sáng soi;

ĐỒNG ấu vẹn ǵn tam bửu ngũ,

TỬ qui một kiếp lại Cung Trời.

      KIM-QUANG ĐỒNG-TỬ, Tiểu Thánh chào chư Thiên mạng, chào chư liệt vị đẳng đẳng.

      Vâng lịnh báo đàn, chư liệt vị nghiêm chỉnh nghinh tiếp Đức Lăo Tổ giáng cơ giáo đạo. Tiểu Thánh chào chung, xin xuất ngoại nghinh tiếp, thăng...

      (Tiếp điển:)

THI:

ĐÔNG lâm Thánh xuất định càn khôn,

PHƯƠNG thị tu thân độ dẫn hồn;

CHƯỞNG trí nguyên nhân hồi bỉ ngạn,

QUẢN giao xứ xứ chứng Thiên Tôn.

      Bần Đạo mừng hiền đệ hiền muội đẳng đẳng. Suốt một năm hành Đạo, chư đệ muội đă trọn chí thành, chí kỉnh phục vụ Đạo Trời, mặc dầu đă gặp trước bao trở lực và thiếu thốn mọi mặt. Chư đệ muội trong Cơ Quan thường được các Đấng Thiêng Liêng để lời khen ủy lạo và hộ tŕ mọi phương diện cho c̣n được vững đức tin đến ngày giờ này. Dầu vậy Thiên Liêng vẫn không quên đền bù lại những thiện tâm thiện chí đó, nên giờ nầy Bần Đạo đến đây để chỉ dạy chư đệ muội đôi phần lư Đạo để chư đệ muội nương theo đó tu thân, bảo tồn chơn tánh và chỉ dạy những phần hành sự sắp đến nay mai cho chư đệ muội khỏi bận ḷng lo nghĩ. Miễn lễ toàn thể đàn trung an tọa.

      Chư hiền đệ hiền muội! Trước khi tam hiền đệ vào tịnh đường, Bần Đạo cần giải thích về lư Đạo để chư đệ muội ư thức thế nào là Đạo Lư.

      Đạo lư là một con đường sáng chí chơn chí mỹ. Đạo lư là lẽ hằng sống của muôn loài vạn vật. Đạo lư là lẽ đương nhiên không không mà có, có có rồi thoạt không. Rất đổi Trời Đất Phật Tiên Thánh Thần cũng ở trong luật ấy.

      Đạo lư c̣n th́ vạn vật đất trời vẫn c̣n. Nếu không có đạo lư th́ không có vạn vật cùng Trời Đất.

      Đạo lư rất sâu sắc, rất cao xa huyền bí, mà Đạo lư cũng rất nông cạn, rất thiển cận và rất dễ t́m kiếm, không cao cũng chẳng xa. Hễ người có thiện tâm thiện chí trong một phút giác ngộ là có thể thấy được Đạo, hiểu được Đạo, hành được Đạo lư.

      Nói một cách khác: Đạo lư khi thâu hẹp lại th́ không có một vật nhỏ nào bằng, khi mở rộng ra, không có một vật ǵ lớn trong Trời Đất có thể sánh bằng.

      Đạo lư khi tụ lại th́ hư hư nhi bất hoại, trưởng trưởng nhi trường tồn, sanh sanh hóa hóa.

      Đạo lư khi buông ra th́ dưỡng dục quần sanh muôn loài vạn vật. Nói đến hai tiếng Đạo lư chỉ tạm gượng một danh từ để gọi, chứ danh từ Đạo lư cũng là hư danh.

      Nói đến hai tiếng Đạo lư th́ luận không cùng và cũng không thể cầm bằng sắc tướng. Sự sinh hoạt của Đạo lư là mặc mặc như như, mắt không thấy, tay không rờ, lời không diễn tả, chỉ có thức tâm lănh hội được mà thôi. V́ vậy cho nên người thế gian từ cổ chí kim không thể dùng vật chất hữu thể để điểm tô Đạo lư, không thể dùng phú quí, công hầu, khanh tướng để mua chuộc và thực hiện được Đạo lư.

      Đạo lư: hai tiếng đó, nếu người biết lấy đó làm căn bản cho lẽ sống th́ mới xem mọi giả cảnh nơi hồng trần là tạm hết.

      Hỏi coi cái chi là thiệt? Thí dụ như người đời hằng nói: nhà cửa nầy của ta, xe tàu nầy của ta, vợ con anh em nầy của ta, vàng bạc châu báu ngọc ngà nầy của ta. Hễ ai động chạm đến những cái gọi là Của Ta th́ ḷng đau như cắt, ruột nát như tương.

      Thử hỏi lại coi cái ǵ mới thiệt là của ta? Xác thân nầy của ta ư? Hành động này của ta ư? Ư nghĩ này là của ta ư? Lời nói nầy của ta ư? Tạm trả lời cho rằng phải đi, th́ thử hỏi những cái đó là của ta, sao ta không giữ ǵn nó trước sau như một cho vĩnh viễn trường tồn? Tại sao ngày nay ta có ư nghĩ như vầy, ngày mai ngày mốt và những ngày khác không c̣n giữ được ư nghĩ đó? Tại sao những lời nói và hành động của ta hôm nay rồi ngày mai ngày mốt và những ngày khác không c̣n giữ được như ngày hôm nay?

      Tại sao nói rằng xác thân nầy của ta, ta yêu nó, ta thương mến nó, không để nó đói lạnh và thèm khát, tại sao ta không giữ nó, không lột vỏ nó cho được sống măi từ trăm tuổi nầy đến trăm tuổi khác, đành phải dứt bỏ ra đi đến ngày nó dứt hơi thở?

      Rồi hỏi thêm nữa: cái mà đời hằng gọi là cái ta. Ta là ǵ? Ta là ai? Ta từ đâu đến? Đến để làm ǵ? Và rồi ta sẽ đi đâu? Ta đă đến cơi nầy được mấy lần rồi? Mỗi lần tên thiệt của ta là ǵ? Và những thân nhân của ta mỗi lần đến là ai? Và hiện giờ những người ấy ở đâu và đang làm ǵ?

      Ô! Cả một xâu chuỗi dài những câu hỏi, và ai là người giải đáp được những câu ấy?

      Nếu khi biết được như vậy rồi, chỉ có Đạo lư mới định nghĩa được mà thôi. Nhưng thử hỏi một khi có Đạo lư định nghĩa và giải đáp được rồi, hỏi có ai trọn tin chăng? Và có ai can đảm làm theo chăng?

      Khi lănh hội được ư nghĩa hai tiếng Đạo lư làm căn bản sự sống của muôn loài vạn vật rồi, th́ người phát tâm tu hành mới xem những phú quí công hầu khanh tướng là phù vân.

      Một khi có nó là do nghiệp mà ra, do luật nhân quả mà có. Nó là phương tiện để cho người đời tạm mượn nơi đó để làm những việc thích hợp Đạo lư. Nếu không có chúng, th́ cũng chẳng làm trở ngại cho bước đường tu học Đạo lư, th́ làm ǵ phải thúc câu trong bả đỉnh chung, mùi phú quí vinh hoa? Làm ǵ có nghịch cảnh để đưa con người đến chỗ đau khổ sầu than của một kiếp vô thường nầy?

      Nếu người biết lấy Đạo lư làm căn bản cho sự sống và cho mọi hoạt động th́ dầu với hoàn cảnh nào, trong Tôn Giáo, phái chi nào cũng không hề hấn ǵ cả. V́ Tôn Giáo, phái chi, mọi h́nh thức khác nhau, đó cũng là phương tiện để truyền Đạo, giáo Đạo, chỉnh đốn Đạo lư đang hồi suy sụp vậy thôi. Chớ người tu thân cũng như người lănh giáo không nên xem đó là những trở lực, những bức tường ngăn cách, th́ làm ǵ có người tị hiềm, tự ái, tự phụ, tự tôn, rồi đưa đến chỗ buồn than sầu khổ trong cuộc đời ảo ảnh phù vân giả tạm, thoát có thoạt không nầy.

      Hai tiếng Đạo Lư: Ai là người giác ngộ nên lấy đó làm sự sống căn bản cho đời ḿnh cũng như cho vạn loại, chớ đừng cho Đạo lư là một quan niệm, một học thuyết mà sai lầm.

      Thử hỏi chư đệ muội gia công hành Đạo, đă chiết bớt những th́ giờ, những sức khỏe, những của cải, những thụ hưởng về vật chất để lập công bồi đức, để mà làm ǵ? Có phải để thành Tiên tác Phật cho đời sùng bái thờ phượng trang trọng trong h́nh thức nầy hoặc h́nh thức khác chăng? Nếu không th́ hỏi chư đệ muội tu chứng để làm ǵ?

      Bần Đạo cũng cần kể lại một chuyện xưa có thể đem áp dụng cho ngày nay như thế nầy:

      Những bậc Giáo Chủ ngày xưa đă hy thân chịu đóng đinh trên Thập Tự Giá hoặc ĺa bỏ ngôi vị vàng son đài các, vào chốn rừng già, có phải những vị ấy muốn lập vị cho đời sùng bái thờ phượng chiêm ngưỡng vạn thế không?

      Bần Đạo hỏi nội đây có ai dám đem ḿnh để chịu đóng đinh và ĺa bỏ tất cả phú quí vinh hoa để cho đời trong mai hậu sùng bái thờ phượng trang trọng chăng? Chắc là không ai dám.

      Như vậy th́ đời xưa những người làm được, chắc rằng các bậc ấy không phải v́ mục đích đó mà chịu hy thân như thế. Đó cũng là hai tiếng Đạo lư để chư đệ muội suy gẫm phần nghĩa lư sâu sắc của nó.

THI:

Muốn vào Thiên Đạo khó chi đâu,

Nhẹ kiếp phàm phu khỏi đáo đầu;

Vật chất tinh thần chung bản thể,

Tiên Thiên tục tử khác cơ mầu.

Nguơn thần thường trụ muôn đường đứt,

Chơn tánh vững cầm sáu nẻo thâu;

Giác ngộ một câu thành chánh quả,

Ra vào bạn lữ chốn Cung Đâu.

      Lời chỉ dạy đến đây đă xong, Bần Đạo ban ơn toàn thể đàn trung.

THI:

Đường đời c̣n lắm nẻo chông gai,

Bước Đạo bền ḷng khéo trở xoay;

Chánh nghĩa lo hành trong chánh Đạo,

Ngày kia sẽ gặp phúc ân đầy.

HỰU:

Đầy đủ mà xem khắp thế gian,

Nhiều màu da tóc đỏ đen vàng;

Trường thi Việt Quốc cho nhân loại,

Cũng băi tha ma cũng chiến tràng.

HỰU:

Tràng học Đạo đời rán bước phăng,

Bền tâm cao vọng lối xa ngàn;

Giă từ đàn nội ban ân điển,

Bần Đạo lui chơn cảnh Thượng tầng.

      Thăng...