|
THÁNH-THẤT
BÌNH-HÒA
Ngọ
thời mùng 8 tháng 4 Canh-Tuất (12-5-1970)
_________
Thi:
QUAN hải non Nam dạo cảnh nhàn,
ÂM thinh hạ giới chợt kêu vang,
BỒ đoàn tọa thị nhìn nơi đấy,
TÁT cảm từ bi xuống thế gian.
Bần Ðạo mừng chư Thiên Mạng lưỡng
đài, mừng chư hiền đệ, hiền muội hiện diện.
Chư hiền đệ hiền muội! Ðến lúc
phải đem sức người ra mà dùng, thì hãy cố nhẫn nhục chế
ngự hoàn cảnh đi. Tình thương bao la của Ðấng Chí-Tôn và lòng
từ bi bao khắp của hàng chư Phật cũng không thể giải thoát
giùm cho chư hiền những nhân quả chằng chịt ấy đâu. Chỉ thể
theo luật công bình Tạo Hóa mà khuyến lệ con người hồi đầu
hướng thiện tiếp nhận giọt nước Cam-Lồ, làm lành lánh dữ,
thuận tùng Thiên-Lý thôi.
Những gì con người hành động,
những gì con người khổ đau, những gì con người than trách
thuộc ngoài phạm vi đạo lý thì chính con người chịu lấy, chớ
Phật Trời nào bênh vực để trái luật công bình, mặc dầu
vẫn thông cảm những trạng thái của con người.
Lời nói "Nhứt thiết chúng
sinh giai hữu Phật tánh" là lời nói muôn thuở của
Ðức Phật. Cứ theo đó mà nhìn lại chúng sinh hiện tại
trong buổi Hạ-Nguơn thì chúng sinh đã làm mờ ám Phật tánh
hay Thiên tánh quá nhiều kiếp mới tạo nên thảm họa diệt
vong cho nhơn loại.
Cho hiền đệ hiền muội cần phân
biệt kỹ Phật tánh hay Thiên tánh với phàm tánh hay vọng tánh.
Chúng nó chỉ có một bản thể mà thôi.
Bây giờ đây, đối diện với
đồng đạo, với khung cảnh trang nghiêm, thì chư hiền phát tâm
lạc thiện rồi, đến khi rời chân ra khỏi chốn nầy, đối diện
với hoàn cảnh phức tạp của thế gian, nào tranh danh đoạt lợi,
nào gai mắt trái tai, nào va chạm nhân tình, thì những nghiệp
thức phàm phu của chư hiền lại một cơn khởi niệm. Ðó là
chưa định được tâm, chưa kềm được tánh vậy.
Hãy nghe đây :
Kệ:
Chơn,
vọng, diệc đồng nguyên,
Niệm,
vô niệm, vị thiên,
Nhược
tâm tùng tạp niệm,
Phàm
tánh thời đảo điên.
Trên kia, Bần Ðạo đại cương về
cái mê, cái vọng, cái chơn của con người. Khi giác ngộ gọi
là Phật, gọi là ma lúc muội mê. Cho nên nói "Phật tức
tâm, tâm tức Phật", thì cũng nói được là "Ma tức
tâm, tâm tức ma" theo thường tình.
Bởi thế, sự dứt khoát giữa
cái vọng và chơn thật là một điều rất hy hữu trên đời
nầy. Vậy muốn mau tiến hóa trên đường tu công bồi đức,
ngoài những phương châm vạch sẵn trong giáo lý, chư hiền nên
duy trì cơ tánh thuần lương thiện mỹ và tránh các trường hợp
khi thì cầu Kinh lạy Phật, khi thì bố thí cúng dường, khi thì
đố kỵ tha nhân, tham lam ích kỷ, để gây quân bình trọn vẹn
cho địa vị tu hành của mình.
Nầy chư hiền đệ hiền muội! "Ðạo
cao nhất xích, ma cao nhất trượng" thật không ngoa chút nào.
Nguyên thỉ con người không tự
có tôn giáo và không ý niệm gì về tôn giáo, vì tự trong
sâu thẩm của con người đã có cả một nguồn sinh tồn vĩ đại
bất biến về Ðạo. Tôn giáo chỉ xuất hiện ngay nét mặt sẩm
tối màu địa ngục của thế gian. Do cuộc chuyển hướng quan trọng
của loài người, ý niệm về tôn giáo con người kết thành
từ đó, và cũng từ đó những tai họa nổi lên cùng lúc
như bảo táp làm mặt nước đại dương bị thu hẹp vì những
lượng ba đào liên tiếp. Các bậc chơn tu đứng ra kêu gọi
con người quay về nhận lấy nguồn sống tôn giáo để không
sa đọa, thì thử hỏi quá trình phổ độ tôn giáo đã cứu
vãn bao nhiêu phần nhân loại, tất nhiên là vô biên so với
pháp môn vô lượng.
Tuy thế, con người vẫn còn quây
quần trong núi sân si sát hại, thì sứ mạng tôn giáo vẫn
phải tích cực độ đời. Người cầm đuốc dẫn đàng cần
sáng suốt hơn ai hết để không lầm lẫn trên vạn nẻo
đường trần, cần chánh kiến hơn ai hết để phân biệt
được đâu là A-tu-la ác đạo, đâu là Bồ-Tát Thiên-Mạng
trong cùng một lớp áo nhà tu.
Hãy nghe đây :
Kệ:
Thế
gian cơn hỗn độn,
Hư
thiệt cùng chung lộn,
Hồi
hướng biết về đâu,
Kìa
CAO-ÐÀI nhứt bổn.
Thi
Bài:
Sóng trần khổ thảm vơi vơi,
Ðây
thuyền Bát-Nhã độ người tĩnh mê.
Nghiệp nhơn loại ê chề ra đó,
Quả thế trần lớn nhỏ chín mùi,
Người buồn ta có chi vui,
Nguyện
đem cơm ngọt canh bùi cho ăn.
Thương xót kẻ thê thằng tử phược,
Cám cảnh người kinh lược truân
chuyên,
Thân tâm ràng buộc đảo điên,
Dược
linh chẳng nếm, vị thừa chẳng ưa.
Nếu đạt tới chơn thừa Ðại-Ðạo,
Bỉ ngạn kia hườn đáo nào xa,
Vàm danh bả lợi tháo ra,
Bước
đi thong thả mị tà dám xua.
Thân tứ đại chác mua cảnh tạm,
Tướng lục trần mờ ám cựu
ngôi,
Quang âm mấy chốc đưa thoi,
Sanh
lòng hối tiếc khi coi lại mình.
Muốn không uổng bình sinh tại thế,
Thì lo tu chớ để cách xa,
Tuy thân ở cõi Ta Bà,
Mà
tâm linh đã thoát ra cửa phiền.
Từ vô thỉ nhân duyên cấu kết,
Ảo hóa tuồng diễn hết mới
xong,
Ðạo mầu giống thiện gieo trồng,
Hầu
muôn loại hưởng cộng đồng hòa an.
Diệt vô minh, Niết-Bàn kiến đắc,
Tận vô minh, xã tắc thanh bình,
Người người không cụ không
kinh,
Vì
bao thảm trạng điêu linh giận hờn.
Giận hờn chi giữa cơn điên bái,
Thù oán chi trong dãy sông non,
Nghĩa nhân truyền thống hãy còn,
Từ
bi đức cả há mòn hay sao!
Chư hiền đệ muội! Trải mấy mươi
năm trên đường tu học, mỗi người đều mong đến sự giải
thoát, nhưng ngặt vì sự giải thoát của người nầy không
giống sự giải thoát của người kia. Người thì muốn giải
thoát hết nhân tình thế sự, cả cái uống, cái ăn, cái sống
đối với đời, để tìm tới một Thiên Ðàng, một Cực-Lạc
nào đó sung sướng hơn, trường cửu hơn. Một người khác
muốn giải thoát, nhưng không làm sao giải thoát được vì thấy
rằng rất là gian nan, không đủ điều kiện để thực thi ý
định ấy. Hai hạng người trên quan niệm giải thoát đều lệch
lạc tất cả. Vì như vậy là trở thành hai thái cực : thái
quá và bất cập. Hạng người trên quan niệm đạo lý giải
thoát hết sức là tiêu cực nếu không muốn nói là lẫn
tránh cuộc đời, xem những công việc thường thức không ra
gì, thấy chữ Ðạo là đâu đâu, không ở thực tế, vì thực
tế không nhìn thấy Ðạo nữa cho nên mới tìm kiếm xa hơn để
mà hy vọng. Còn hạng người dưới thấy chữ Ðạo giải thoát
thì nản lòng ngán ngẫm và sợ thi hành không được. Cứ
như thế mà năm chầy tháng lụn vẫn không chịu tu hành, thật
là bất cập!
Vậy chư hiền nên biết, Ðạo
giải thoát ở đâu cũng có thể làm được. Giải thoát
sự u trệ tâm hồn vị kỷ là tích cực phụng sự nhơn sanh độ
dẫn người đời. Giải thoát sự u ám tâm linh là quyết chí
trau luyện cõi lòng theo chơn pháp cho thanh bạch. Khi mọi việc
đã chu đáo đối với Ðạo với đời rồi, không còn phải
lo ngại gì về sự khiếm khuyết ân hận nữa, thì ra đó đã
là giải thoát trong những lối giải thoát.
Thi:
Giải
là cởi mở nghiệp căn qua,
Giải
ấy chùi lau sạch mị tà,
Giải
nợ hồng trần bằng tích cực,
Giải
vây tục lụy với xông pha,
Giải
mê tư tưởng trong thinh sắc,
Giải
chấp tâm tình ở kỷ tha,
Giải
khổ nhờ tu, tu Chánh Ðạo,
Giải
rồi thì sẽ thoát trần la.
Thi:
Thoát
là tránh khỏi có gì đâu,
Thoát
được phiền ba thấy nhiệm mầu,
Thoát
hóa rằng không nhân sự phế,
Thoát
điều phi đạo mới tròn câu.
Bần Ðạo cốt yếu những ý tứ
ấy, chư hiền đệ hiền muội bình tâm suy nghĩ soi rọi lòng hôm
sớm để mạnh tiến trong giai đoạn hiện thời làm đà chắc
chắn cho những ngày liên tiếp.
Chư hiền muội! Bần Ðạo nhận thấy
chư hiền chưa được tâm đồng ý hiệp trên đường Ðạo bằng
những lằn điển, bằng những lời Kinh cầu an, cầu nguyện. Chư
hiền hãy hòa đồng từ tư tưởng đến lời nói, thanh tâm
để được trọn vẹn trên chu trình tiến hóa.
Vậy Bần Ðạo ban ơn chung chư hiền,
Bần Ðạo xin giã từ...
|