
Đọc thơ CAROL WIMMER:
Khi nói rằng ‘Tôi là Ki-tô hữu’
NDL
Sinh ngày 14-4-1949 tại thành phố Bethlehem, bang Pennsylvania (Mỹ), Carol Wimmer làm thơ, soạn nhạc, viết kịch, và sáng tác các bài hát giúp cho trẻ dễ thuộc Kinh Thánh. Bà cũng dạy nhạc, kịch ở thành phố Clovis, bang California. Kết hôn năm 1969, bà có một gái (sinh 1971) và một trai (sinh 1973). Hiện nay bà cư ngụ tại thành phố Tulsa, bang Oklahoma.
Trang web riêng (www.carolwimmer.com) của bà cho biết bài thơ When I say, “I am a Christian.” (Khi nói rằng “Tôi là Ki-tô hữu”) được viết năm 1988. Bốn năm sau bà gởi bài thơ tới năm tờ báo khác nhau. Sau khi được in lần đầu vào tháng 11-1992 trên Hi-Call Gospel Magazine (tạp chí Phúc âm Tiếng gọi Thiêng liêng), bài thơ được ai đó đưa lên Internet và từ ấy nó bắt đầu sống một đời riêng kỳ diệu (it miraculously began taking on a life of its own).
Không những phổ biến trên Internet, bài thơ c̣n được chọn in lại trong nhiều hiệp tuyển khác nhau (trong những năm 2000, 2002, 2004, 2006…), và tác giả đă cho phép dịch sang tiếng Tây Ban Nha, Nam Dương, Phần Lan và Trung văn.
Từ Philippines qua Nam Phi, từ Úc tới Singapore, từ Phần Lan sang đảo quốc Bahrain (trong vịnh Ba Tư, thuộc cộng đồng các nước Ả Rập), độc giả khắp nơi trên thế giới gởi e-mail cho bà (địa chỉ hiện nay: carol@carolwimmer.com), để cùng bày tỏ chung một ước muốn được khiêm hạ bước đi theo Chúa. V́ thế, bà rất biết ơn con người vô danh đầu tiên đă đưa bài thơ ấy lên Internet và vô số độc giả đă lần lượt chuyển tiếp, chia sẻ bài thơ giản dị này đến với những người khác.
Cũng trên trang web riêng, tác giả thổ lộ rằng bà ghi lại những ư tưởng của ḿnh với một quyết tâm định nghĩa tinh thần Ki-tô theo cách bà muốn trải nghiệm. (I jotted down my thoughts with an inner determination to define the Christian spirit as I wished to experience it.) Qua bài thơ bà muốn chia sẻ cùng mọi người nhận thức về ư nghĩa được làm một Ki-tô hữu, đó không phải là thấy ḿnh thánh thiện hơn người khác (“holier than thou”), mà giản đơn là nhận ra rằng con người vốn khiếm khuyết và lầm lỗi (Man is flawed and needy).
Qua e-mail ngày 28-5-2007, tác giả đă hoan hỉ cho phép tôi chuyển ngữ bài thơ sang tiếng Việt. Bà c̣n thận trọng gởi kèm nguyên bản tiếng Anh, câu chữ có khác hơn chút ít so với bản in trong quyển Chicken soup for the Christian family soul (Florida, 2000, tr. 221-222), kể cả bản điện tử đăng tải trên www.carolwimmer.com (năm 2004).
Tôi xin chân thành biết ơn bà Carol Wimmer và trân trọng gởi đến quư độc giả nguyên tác kèm bản dịch tạm như sau:
When I say, “I am a Christian”
When I say, “I am a Christian”
I’m not shouting, “I’ve been saved!”
I’m whispering “I get lost!
That’s why I chose this way”
When I say, “I am a Christian”
I don’t speak with human pride
I’m confessing that I stumble −
Needing God to be my guide
When I say, “I am a Christian”
I’m not trying to be strong
I’m professing that I’m weak
And pray for strength to carry on
When I say, “I am a Christian”
I’m not bragging of success
I’m admitting that I’ve failed
And cannot ever pay the debt
When I say, “I am a Christian”
I don't think I know it all
I submit to my confusion
Asking humbly to be taught
When I say, “I am a Christian”
I’m not claiming to be perfect
My flaws are all too visible
But God believes I’m worth it
When I say, “I am a Christian”
I still feel the sting of pain
I have my share of heartache
Which is why I seek His name
When I say, “I am a Christian”
I do not wish to judge
I have no authority…
I only know I’m loved
Khi nói rằng “Tôi là Ki-tô hữu”
Khi nói rằng “Tôi là Ki-tô hữu”
Tôi chẳng oang oang “Tôi được cứu rỗi!”
Mà khẽ khàng “Bỏ ngày xưa lạc lối
Nên hôm nay tôi chọn bước nẻo này”
Khi nói rằng “Tôi là Ki-tô hữu”
Tôi chẳng tự hào giọng cao tiếng cả
Mà thú nhận bởi v́ tôi vấp ngă
Đang rất cần Chúa dắt dẫn đời tôi
Khi nói rằng “Tôi là Ki-tô hữu”
Tôi chẳng cố tỏ ra ḿnh dơng mănh
V́ yếu đuối là điều tôi xưng nhận
Xin Chúa ban sức mạnh bước trọn đường
Khi nói rằng “Tôi là Ki-tô hữu”
Tôi chẳng khoe thành công hay thắng lợi
Mà thừa nhận bao phen tôi thất bại
Chưa một lần trả dứt nợ vương mang
Khi nói rằng “Tôi là Ki-tô hữu”
Tôi chẳng nghĩ tôi toàn tri biết hết
Sinh làm người mấy ai luôn sáng suốt
Tôi cúi ḿnh xin thọ nhận dạy răn
Khi nói rằng “Tôi là Ki-tô hữu”
Tôi chẳng bảo con người tôi hoàn thiện
Tôi khiếm khuyết quá rơ ràng hiển hiện
Nhưng Chúa tin tôi đă bơ công rồi
Khi nói rằng “Tôi là Ki-tô hữu”
Tôi vẫn thấy nỗi đớn đau nhức nhối
Nhưng ḷng tôi Chúa sẻ san cũng vợi
Bởi thế nên tôi t́m đến danh Thầy
Khi nói rằng “Tôi là Ki-tô hữu”
Tôi chẳng muốn làm quan ṭa xét xử
Thẩm quyền ấy đời nào tôi được có
Chỉ biết là tôi đang được yêu thương
Bài thơ giản dị, nói lên ư khiêm hạ của người đạo. V́ thế ư thơ cũng gần gũi với người tín đồ Cao Đài. Thật vậy, Thầy đă dạy: “Hạnh khiêm nhường là hạnh của mỗi đứa con. Phải noi theo gương Thầy mới độ rỗi thiên hạ đặng. Các con phải khiêm nhường sao cho bằng Thầy.” (Thánh ngôn hiệp tuyển, quyển 1, đàn 11-9-1926)
30-5-2007