|
Thuật xử thế người xưa |
|
Ngô Nguyên Phi |
|
Không Ai Hiểu Con Bằng Cha |
Triệu
Xa có người con trai tên là Triệu Quát, ngay từ bé đă đọc và bàn luận rất nhiều.
Triệu quát vẽ trời vạch đất giảng giải lung tung, coi thiên hạ không ra ǵ, dẫu
bố là Triệu Xa cũng không bắt bẻ được, nhưng Triệu Xa vẫn không cho là phải.
Triệu mẫu thấy con được như vậy rất mừng, bà nói:
- Quả là ... tướng môn xuất tướng!
Triệu Xa không vui, nói:
- Quát không thể làm tướng được. Nước Triệu không dùng nó là
đại
phúc cho xă tắc.
Triệu mẫu nói:
- Quát đọc hết binh thư, bàn rất thấu đáo về binh sự. Thiên hạ không ai
bằng nó, sao bảo là làm tướng không được?
Triệu Xa nói:
- Chính v́ Quát tự cho thiên hạ không ai bằng ḿnh, tôi mới nói rằng nó
làm tướng không được. Việc binh cầm bằng cái chết trong tay, lo lắng, sợ hăi,
cẩn thận từng bước, học hỏi từng người mà vẫn c̣n nhiều sai sót. Thế mà Quát lại
cho là dễ dàng. Nếu nó được giữ binh quyền th́ nó sẽ tự ư mà làm, do đó những kế
hay không lọt vào tay nó, chắc chắn chuốc lấy sự thảm bại.
Triệu mẫu đem lời nói với Quát. Quát nói:
- Cha nay đă già nên nhát.
Hai năm sau Triệu Xa bệnh nặng, trước lúc lâm chung kêu Quát đến dặn.
- Binh hung chiến nguy, người xưa lấy đó làm răn.Cha mày mấy năm làm tướng
giờ mới kịp mừng tránh được cái nhục thua trận. Mày không có tài làm tướng chớ
nên dây vào cái nghiệp đó mà làm hại nước, hư nhà, thiệt dân.
Triệu Xa lại dặn vợ:
- Sau này nếu vua phong cho nó làm tướng, bà nên kể lại những lời của tôi
và từ chối. Mất quân nhục nước là cái tội rất lớn.
Vua Triệu, sau khi Triệu Xa mất, vẫn Triệu Quát làm Mă Phục Quân, nối chức
cha!
Lời
bàn:
Thường
một xă hội tiến bộ th́ thế hệ sau phải hơn thế hệ trước. Tuy nhiên trên cương vị
nghề nghiệp chưa chắc con đă hơn cha hay em đă hơn anh.
Trong đạo làm tướng, ngoài tài năng thiên phú, người ấy c̣n phải mài luyện
trên chiến trường để lấy kinh nghiệm xương máu, để biết địa h́nh địa thế, không
thể ngồi trong tháp ngà mà nói chuyện chiến tranh.
Qua cung cách của Triệu Quát, ta biết Quát không thể làm tướng được. Tác
phong làm tướng phải trầm hùng, lạnh lùng, ít nói mà hiểu việc sâu sắc. C̣n nói
nhiều chứng tỏ Quát không có chiều sâu, chỉ có thiển cận, nông nổi. Một lẽ dễ
hiểu, nói nhiều là
để
lộ cái sơ hở của ḿnh cho địch biết. Làm tướng mà
đa
ngôn, lạm ngôn là
điều
tối kỵ trong binh gia.
Ta biết, trước đây Tôn Thúc Ngao làm lệnh doăn nước
Sở, trước khi lâm chung gọi con là Tôn An lại dặn: "Con ơi! Tài con thô thiển,
con không thể chen vào đám quan trường được. Nếu đại vương có phong ấp cho con
th́ con nên từ chối. Nếu từ chối không được, con xin đất Tam Khâu. Đất ở đó cằn
cỗi không ai tranh giành". Tôn Thúc Ngao mất, vua Sở phong chức cho Tôn An, An
từ chối, vâng lời cha lui về làm dân.
Xem thế đủ biết Triệu Quát không bằng Tôn An.
Khi Triệu Quát Được Phong Tướng
Bấy giờ Triệu Huệ Vương đă qua đời, Hiếu Thành Vương lên kế vị. Tần sai Đại Tướng Vương Hạt đem quân tiến đánh 17 quận ở Thượng Đăng (của nước Hàn), tướng Phùng Đ́nh liệu sức không giữ được bèn dâng đất ấy cho Triệu. Người đến tiếp nhận đất Thượng Đăng B́nh Nguyên Quân Triệu Thắng. Phùng Đ́nh nói với Triệu Thắng:
Ta
miễn bàn Tướng Quốc Triệu Thắng bỏ mất Thượng Đăng, Triệu Thắng chỉ là ông hoàng
để làm kiểng mà thôi.
Triệu Quát không nghe lời cha dặn, mẹ dạy, với tính cách tự cao tự đại,
Quát đă chôn 45 vạn quân Triệu trong một đ
êm.
Vua Triệu tin dùng Triệu Quát mà không chịu tin Liêm Pha và Lạn Tương Như, Triệu
mẫu cũng v́ xă tắc mà vào triều can, thế mà B́nh Nguyên Quân Triệu Thắng đang
làm Tướng Quốc không có một lời can gián. Nước Triệu bại trận này khiến cho binh
lực của sáu nước phương Đông (Sở, Hàn, Ngụy, Triệu, Yên, Tề) phải xuống dốc,
nước Tần có cơ hội thôn tính sáu nước. Đây là một bài học lớn cho các bậc trị
quốc ngàn đời. Kẻ có tài năng (nhất là tài năng về quân sự) th́ họ có thái độ
điềm tĩnh, nói rất ít, nghe rất nhiều. Mỗi lời nói của họ vững như núi. Chỉ có
bọn đồ điếu mồm mép bất tài vô dụng mới khoa
đại mà thôi. Từ đó ta có thể suy ra
những việc khác...